Chèo

04/05/2013

Trong ba vùng chèo tiêu biểu của Thái Bình trước Cách mạng tháng Tám -1945 thì vùng chèo Hà Xá đặc sắc hơn cả.

1. Các vùng chèo, phường chèo, gánh chèo ở Thái Bình

Trong ba vùng chèo tiêu biểu của Thái Bình trước Cách mạng tháng Tám -1945 thì vùng chèo Hà Xá đặc sắc hơn cả.

Chèo Hà Xá

Dân gian gọi tắt là chèo Hà, bao gồm cả vùng tây bắc huyện Hưng Hà: theo gia phả họ lại ở Hà Xá, từ đời ông Lại Văn Châu tính đến nay là bẩy đời đã có gánh hát. Ông Châu truyền nghề cho con là Lại Văn Trần. Ông Trần truyền lại cho cháu là Lại Văn Phan. Đến kháng chiến chống Pháp thì gánh chèo tan rã. Về sau, chèo Hà Xá còn lại nghệ nhân Nguyễn Thị Triệu là con dâu họ, khi ấy đã 82 tuổi. Con cháu họ lại sau này không nhớ gì về những hoạt động chèo của cha ông nữa.

Làng Hải Triều, trước năm 1945 có gánh hát của ông Đoàn Văn Soảng, đi diễn ở các vùng lân cận, có khi sang cả Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng. Về tích trò chèo thì có: Nhị độ mai, Kim Nham, Quan Âm Kiều… Và tuồng như: Chiêu Quân cống Hồ, Phụng Nghi Đình, Chinh đông, Chinh tây… tùy  yêu cầu của từng nơi diễn, có khi gánh phải hát xen lẫn đêm này hát chèo đêm kia hát tuồng.

Ông Trần Văn Linh tức Hai Sinh, một người được ngành chèo giữa thế kỷ trước thừa nhận  từ “ Nghệ nhân tứ chiếng” cho biết, ở Dương Xá ngày xưa có ông Tú Tập họ Nguyễn, đậu tú tài thời Tự Đức (1848-1883), đứng ra lập gánh hát để diễn ba ngày hội của làng và các vùng lân cận. Sau khi ông Tú mất thì cụ Lý Ứng kế tiếp công việc của cha. Đền đời cháu là ông Tổng Ngạnh, tức Nguyễn Đăng Ngạnh tiếp nối công việc của cha ông. Gánh hát của ông Tống Ngạnh không có đào. Năm 1939, gánh có các ông Khúc Văn Đẩu, Phạm Văn Mương, Phạm Văn Rô, Trần Đình Lánh đóng cả kép cả lão.

Ngoài ra, gánh hát của ông Thủ Chuốc ở Dương Xuân, Dương Khê chỉ có 123 người mà hát trò Kiều đi thanh minh, trò Trương Viên. Kép Oanh đóng Kim Trọng, Trương Viên. Em gái ông Thủ Chuốc vốn là “ đào rượu” thì đóng Kiều, Thị Phượng. Gánh này cũng chỉ hoạt động của năm 1945.

Chèo Khuốc

Khuốc là tên Nôm của làng Cổ Khúc. Theo các nghệ nhân Phạm Văn Điền, Cao Kim Trạch, Hà Quang Bổng ở cuối thế kỷ XIX, làng Khuốc có phường chèo của ông Trùm Điều. Phường có các Kép Kiều, Chỉnh, Huy, Duyệt, Khoát… và mấy ông kéo nhị, thổi sáo, đánh trống, gõ thanh la mà hát trò Trương Viên, trò Lưu Bình Dương Lễ được bà con rất khen.

Nhưng phải đến phường hát của ông Thương biện Cao Kim Trác thì chèo Khuốc mới có điều kiện phát triển. Ông Trác từng đậu Nhị trường, vừa dạy chữ Hán vừa bốc thuốc, từng đóng vai thư sinh ở phường ông Trùm Điều. Khoảng năm 1860-1870, ông ra làm quan được thăng đến Thương biện, giúp Tống đốc lo việc thương vụ, thuế vụ. Sau khi về hưu quan, ông Trác xuất tiền lập gánh hát. Ông trọng dụng Kép Ngạn, người Y Đún nay thuộc xã Bình Lăng, huyện Hưng Hà. Kép Ngạn vốn đỗ Nhất trường, chuyên gánh đàn cho hát ả đào cũng gọi là hát ca trù. Ông Trác làm ba gian nhà riêng và tuyền chọn những thanh nữ có giọng hát hay trong làng, tập các bài hát cửa đình, cử người học đàn đáy, lập thêm phường nhà trò để hát các dịp lễ tiết ở làng và các xã lân cận. Là người hành nghề từng trải nên Kép Ngạn thuộc nhiều tích trò. Chính Kép Ngạn là người truyền trò Từ Thức nhập thiên nhai cho phường Khuốc. Kép Ngạn đưa các cô bên phường nhà sang tập múa chạy trái trong vở, cho nên trò Từ Thức đậm chất ả đào.

Được mấy năm, Kép Ngạn mất và sau đó ít năm, ông Trác cũng mất. Phường chèo Khuốc chuyển sang người cháu ông Trác là ông Tổng Bá.

Ông Tổng Bá tên thật là Cao Kim Thiên, nguyên là Chánh tổng được phong Bá hộ. Chèo Khuốc thời ông Tổng Bá cũng có những đổi khác. Khi có nơi nào mời thì phường đi hát, tiền hát thu được chia nhau theo mức: nhất, nhì, ba… Hồi này chèo Khuốc có thêm trò Tống Trân, học ở Hưng Yên về. Vì đi hát nhiều nơi nên quần áo, đạo cụ phải xếp gọn trong đôi gánh, vì thế có tên Gánh chèo Khuốc. Tuy từ phường sang gánh, nhưng trong giấy tờ, chính quyền Pháp bắt khai đăng ký vẫn phải ghi là Hội chèo.

Vào thời điểm này, tiếng vang của tuồng đã dội về các thôn quê Bắc Bộ; Một số người  trong gánh của ông Tổng Bá muốn sang học tuồng. Ông Tổng Bá cho người lên Hà Nội, mời rước hai nghệ nhân Năm Kinh và Sáu Thỏ. Đây là những nghệ nhân tuồng kinh ở Huế theo đội tuồng Hoàng Cao Khải ra Hà Nội hát từ lâu, nay có tuổi thì nghỉ hát và về Khuốc truyền nghề. Nghe nói, nghệ nhân Năm Kinh từng là kép hát diễn cho vua Thành Thái (1889-1907) xem. Lúc ấy, dù đã lòa nhưng từ câu hát đến điệu bộ làm mẫu vẫn hoàn chỉnh. Nhờ thế mà ba năm sau, gánh Guốc có thêm hồi một, hồi hai rồi ba trọn vở tuồng Sơn hậu. Từ đấy, gánh Khuốc có thêm tuồng, nhưng về sau vẫn diễn chèo là chính.

Mấy năm đầu thế kỷ XX, làng Khuốc có ông Huyện Đoàn, một võ quan về hưu đứng ra lập gánh hát làm thú vui thanh nhàn. Vì thế, bà con gọi gánh của Tổng Bá là Gánh Khuốc lớn hay Hội Nhất, gánh của ông Huyện Đoàn là Gánh Khuốc con hay Hội Nhì. Đến hội làng thì gộp cả hai gánh lại, hát trổ tài cho làng xem. Kép Đối của Hội Nhì được tín nhiệm giao phụ trách cả đêm diễn như một “đầu trò”.

Kép Đối tên thật là Vũ Đình Đối, con ông đồ. Vì thế mà ông rất khá về chữ Hán, chữ Nôm, lại hát hay, thuộc nhiều làn điệu hát, đóng vai thư sinh rất khéo, nhờ tài tổ chức của kép, gánh Khuốc con đi hát liên miên sang cả Hải Dương, Kiến An… có lần lên hát ở cả Hà Nội, ông đã hướng dẫn anh em Sán Nhiên Đài học mấy điệu hát lạ. Hàng chục năm gánh Khuốc con có nhiều trò mới cho như Phan Trần, Quang A, Mẫu Thoải, Hán Sở… gây được nhiều tiếng vang trong tỉnh và mấy tỉnh lân cận. Kép Đối được bà con và anh em trong nghề quý mến gọi tên thân mật là Ba Đối. Từ nơi đào tạo, nuôi dưỡng này đã hình thành được những tài năng trẻ khi ấy như Kép Điền (Phạm Văn Điền), Đào Nai (Phạm Thị Nai) đều là hai con ông Thi, Kép Trạch (Cao Kim Trạch), Kép Phụ (Vũ Văn Phụ).

 Năm 1918, Tổng Bá mất, chuyển gánh Khuốc lớn sang tay ông Cửu Cả. Ông Cửu Cả tên thật là Đăng Văn Phổ, trưởng họ làm Lý trưởng, về nghỉ được hàm cửu phẩm, mấy năm ấy, ông muốn củng cố gánh hát nên cho đón lão nghệ nhân tuồng Huế là Năm Úc về dậy mọi người tập vở tuồng Đào Phi Phụng. Nhưng anh em học thiếu nhiệt tình nên đành nhường bước cho gánh Khuốc con tung hoành đây đó.

Năm Tân Dậu (1921), sáu anh em họ Cao là Cao Kim Chung (anh cả) cùng các anh em là Cao Kim Thêm, Cao Kim Bôi, Cao Kim Thơ, Cao Kim Mẫn và Cao Thị Thư đứng ra lập gánh hát, gọi là gánh hát ông Thung. Noi gương Thương Trác (ông nội), ông Tổng Thuyên (cha), lập gánh để hát mấy vở cũ của gánh Khuốc lớn, nhưng cũng chỉ hát trong độ xuân về ở làng xóm. Được mấy năm, ông Thung mất, thọ 72 tuổi, gánh thôi hoạt động .

Năm Bính Dần (1926), sau trận lụt, làng Khuốc xuất hiện gánh hát mới của ông Kép Mục. Ông là người khoan hòa, đi thi hai lần chỉ đỗ tú tài. Ông Mục theo chân ông Huy đóng vai Trương Mẫu, Tống Mẫu giống như lột và đóng mụ Sùng rất giỏi. Gánh hát lôi kéo được nhiều ông bà từng sắm vai ở gánh Khuốc lớn . Gánh ông Mục làm ăn theo kiểu kiểu phường, hội, chia lương theo hai bậc nhất , nhì; tập hát cả tuồng và chèo, đi hát ở xa là chính có khi lên cả Bắc Ninh, Bắc Giang… Năm 1939, gánh ông Kép Mục lên Lạng Sơn, sang cả Cao Bằng và hát tại rạp của thị xã tới cả tháng. Năm 1941, gánh hát có thêm các Kép Điền, Trạch, Phụ, ca, Đào na và cây nhị tài hoa Hà Quang Bổng, lên hát còn học thêm Nhị độ mai hai hồi của Sán Thiên Đài, một trận cười của Nguyền Đình Nghị và tuồng Võ Tòng đả hổ, Võ Tòng sát tẩu, do Kép Trạch khi làm cho Nghị Lập ban học được, nhưng gánh cũng hoạt động đến năm 1945 thì ngừng.

Năm 1929, làng Khuốc xuất hiện thêm gánh hát ông Khóa Thi, tức Phạm Văn Thi con trưởng ông Nhì Luận tức Phạm Văn Luận cùng 5 em trai từng tham gia gánh Khuốc lớn và đều thiên về hát tuồng. Gánh có các vở diễn: Sơn Hậu, Đào Phi Phụng, Hán Sở tranh hùng, Chinh đông,Chinh tây, Võ Tòng… có các kép: Phòng, Phùng, Thoan, Thi, Nhương, Khuê, Vịnh, Phu và hai kép đàn là Hà Quang Bổng và Cao Kỳ Dương. Gánh này còn sắm được bộ trang phục hàng Tầu khá lộng lẫy.Bản thân ông Khóa Thi thì đóng được vai Phượng Cơ, Đại Tẩu, nhất là vai Điêu Thuyền rất hay.

Năm 1930, ông Xã Lục tức Trần Đình Lục đứng ra lập gánh hát và công khai nói rằng chỉ hát chèo.  Gánh này do con cháu họ Trần tập hợp lại để diễn chúc Tết mà không đòi hỏi làng phải trả công và chiêu đãi gì. Với lòng hào hiệp ấy, các xã lân  cận  Niềm nở đón  mời, nhưng cũng chỉ hoạt động đến năm 1943 thì dừng.

Năm 1932, làng Khuốc lại xuất hiện gánh hát mới, cũng công bố là chỉ hát chèo; đó là gánh hát của ông Hà Quang Ân, Chánh  tổng Cao Mỗ,  người đề xướng lập chợ Khuốc. Năm 1926, ông đứng đầu đỡ đầu gánh hát ông Kép Mục. Do không hợp lý, ông đứng ra lập gánh hát riêng, dàn tập vở Lưu Bình Dương Lễ  Chu Mãi Thần, bản thân cụ chánh cũng thủ một vai nữ. Gánh  hát gồm các bác Xuyên,  Hơn, Mô, Thỉnh, Chức, Chu và các cô Na, Như, Mận, Bé, Lan. Về trò diễn, gánh còn có Trương Viên, Từ Thức lấy vợ Tiên, Tống Trân Cúc Hoa… Gánh hoạt động được 10 năm thì tách làm hai. Một gánh của ông Phó Xuyên (Hà Quang Xuyên) là em ông Chánh Ân và gánh của ông Tư Mô tức Nguyễn Hữu Mô.

Ông Phó Xuyên là Phó Lý, nhà khá giả, biết chữ Hán, mê hát chèo và đã từng hát chèo ở gánh hát ông Chánh Ân. Ông có ý muốn đưa gánh hát làm ăn lớn hơn, song tình thế quá khó khăn nên gánh hát chỉ hát những vở chèo cũ, mỗi mùa hát mươi lăm buổi. Vì thế đến năm 1942, 1943 thì dừng hẳn.

Ông Tư Mô, từng hát mấy năm ở gánh hát ông Kép Mục, đóng vai hề theo thầy rất có duyên. Cụ  có ý học cách làm của cụ Ba Đối bên Khuốc con và của cụ Kép Mục, đưa gánh đi hát ở những vùng xa xôi cho thỏa chí. Cụ nhờ người tìm trò mới, tuồng mới song không đủ điều kiện đáp ứng, gánh chỉ hát ở quanh vùng rồi đến năm 1944 thì  nghỉ hẳn.

Những năm 1937 đến 1941 làng Khuốc, còn có những gánh chèo khác của ông Nhu, ông Viên, ông Đại, Ông Thỉnh. Vùng  Khuốc khi ấy ở làng Tăng có hai gánh, làng Phạm hai gánh, làng Tuộc hai gánh, làng Ngói 1 gánh. Các bà ở Khuốc như Bà Chư, bà Chắt, tiếp đến bà Na, bà Điền, bà Trạch, bà Lới… là những nữ  nghệ nhân đầu tiên bước vào chiếu chèo.

Chèo Sáo Đền

Sáo Đền là di tích lịch sử gắn với họ Đinh thời Lê sơ ở làng An Lão, huyện Thư Trì nay thuộc xã Song An, huyện Vũ Thư. Sáo Đền chỉ Đốc hổ điện, xây dựng vào thế kỷ XV bên cạnh đền thờ vị tướng quân họ Đinh, những vị khai quốc công thần thời Lê. Ngô Thị Ngọc Giao là thân mẫu của vua Thánh Tông, tuổi thơ bà từng sống hơn chục năm trời với bà ngoại họ Đinh ở đất thế nghiệp này. Nhớ ơn ấy khi lên ngôi Lê Thánh Tông cho xây Đốc hổ điện để thờ ngoại tổ và cắt ruộng cho con cháu họ Đinh thu hoa lợi lấy tiền cúng tế. Từ đấy hằng năm cúng tế long trọng vào 3 ngày từ 24 đến 26 thàng 3 âm lịch. Ngày hội phủ mẫu ngoài các trò thi bắt vịt, thi bắt chạch, thi múa hát, rước đèn, vật múa sư tử, rước kiệu thì thi sáo diều đông vui, hấp dẫn hơn cả. Vì thế nhân dân trong vùng gọi tên nôm là Hội Sáo Đền. Gánh chèo làng phải chọn tích hay, đào kép giỏi, diễn đêm mở đầu. Còn mấy đêm sau các gánh hát khác ở các thôn bàn nhau quyết định. Nhiều năm có cả các gánh bên Nam Định, Hưng Yên sang tham gia. Ông Nguyễn Mầm còn nhớ, ông Khóa Tự ở thôn Kiều Thần kể rằng: Ông Khóa từng đóng vai thư sinh theo gánh hát của cha là ông Nhất Phúc tức Phạm Hữu Phúc năm sáu năm liền. Năm 1918 cụ Nhất nghỉ sang tay cho cụ Khóa.

Gánh hát của ông Khóa Tự có Vinh đóng lão. Phủ đóng kép, ông Vang em ông Vinh, ông Duật và ông Tú đóng hề, bà Lành vợ ông Vinh làm đào, bà Tý làm mụ, ông Nhiêu Hỹ kéo nhị một nhị hai. Ông Rẻ đánh tiếng tiếng trống để gõ thanh la, mõ. Tích hát có Trương Viên, Tống Trân, Lưu Bình - Dương Lễ, sau thêm Từ Thức nhập thiên nhai. Năm 1993, gánh hát lại nhờ ông Trùm Thịnh gánh Thịnh Lạc về hát và giúp tập thêm được trò Quan Âm Thị Kính và Sùng Sơn Thánh Mẫu. Dân xã rất khen vai tùy tòng và tiểu của ông Tú, vai trù phòng của ông Vang và vai Thị Mầu của bà Lãnh. Bà Nguyễn Thị Vận khi ấy thường sắm mấy vai chua ngoa, sắc sảo, không ít lần cặp diễn với ông Lý Mầm trong gánh hát của ông Khóa Tự.

Ngày ấy, ở Tống Văn có gánh hát ông Lý Đát hát Lưu Bình – Dương Lễ, các Phách sắm vai Lưu Bình, bác Xã Thiêm sắm vai Châu Long, giọng hát ấm, tiếng ngọt, bà con rất khen. Hát Từ Thức thì bác Tá sắm vai ông tơ làm mọi người cười thỏa sức. Ở Ô Mễ có gánh hát của ông Cả Tôn hát chèo và tuồng đều rất hay. Gánh hát có các ông Hay, Muống Đáo, Mô, bà Cả Thệ chia nhau đóng các vai mà vai nào cũng khó. Người xem hiểu sâu về chèo đã khen hề Phô đóng không kém hề Long “toét” của ban hát Sán Nhiên Đài ở Hà Nội.

Tính đến năm 1934, ông Khóa Tự làm trùn gánh Sáo Đền được 16 năm, năm nào cũng có trò diễn mở đầu thích đám, có năm hát cả ba đêm hội và sau còn tiếp vài ba đêm nữa, mà năm nào cùng được làm ban trưởng. Các gánh hát nơi khác về xin diễn kể cả tỉnh khác đều được tiếp đón vui vẻ.

Năm Giáp Tuất (1934), cụ Khóa Tự về già sang gánh cho cụ Tổng Tố. Cụ Phan Văn Tố khi ấy làm Chánh tổng An Lão, biết chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, nhà giàu, dinh cơ rộng rãi, tính nết phóng khoáng. Ông muốn tổ chức hội thi chèo Sáo Đền nên tuyển người tập thêm tuồng. Khi còn gánh của ông Khóa Tự, hai người con trai cụ tổng đóng vai loại nhỏ đã khá. Nay gánh hát sang tay cụ tổng, cụ cho cả ba con trai, ba con dâu, hai con gái vào gánh hát, tập cả chèo tuồng. Ông thu nạp cả những người ở các xã khác đến, rồi thân chinh lên Ô Mễ xin ông Cả Tôn cho con trai ông là Hai Tạo về Sáo Đền dạy hát tuồng. Ông Hải Tạo tập vở tuồng Thất Hiền Quyến, rồi vở Phụng nghi đình. Những người tập chèo cũng phải tập thêm: Kiều đi thanh minh, Kiều ở lầu xanh. Hơn 1 năm sau, gánh hát của ông Tổng Tố có đến gần hai chục người, phần nhiều là con cháu họ Phạm, như các cặp vợ chồng nhà Hiệt, nhà Đinh, nhà Tích, nhà Tân, nhà Mầm… Chỉ còn lẻ mấy người như ông Hà Văn Hỹ cón Hỹ kéo nhị, ông Lạc đánh trống, gõ mõ, thanh la. Mấy vai hề như ông Nhưỡng, mấy kép như con Hai Ích, Văn Bối, mấy đào như Thị Lộc, Thị Phương. Những năm cuối thập niên 30, gánh hát của ông Tổng Tố nổi lên hàng loạt đào kép tài năng như: Tân, Mầm, Tý, Trắm, Chép, Thiềng, Tích. Hai bác Mầm và Tích đóng các vai kép văn, kép võ bên tuồng cũng khá hay; những đào giỏi như bà Nhẫn – vợ Kép Đinh, bà Mận – vợ Kép Hiệt, bà Thọ, bà Phó Sách… đóng vai chua hay đào lẳng, bà con đều khen, đào Vận đóng Thị Kính, Châu Long, Cúc Hoa đều hay. Những năm sau, gánh Ông Tổng tập hát thêm được mấy vở chèo: Kiều với Hoạn Thư, Phan Trần, Phan Công… và mấy vở tuồng: Thạch Sanh, Chiêu Quân cống Hồ, Sơn Hậu (hồi 1), Sơn Hậu (hồi 2), Nhất bộ nhất bái

Ông Tổng rất quan tâm tìm tích mới cho gánh. Hễ rạp Tân Thiện trên thị xã hát tích mới là hay, ông mua vé cho những đào tạo kép chính trong gánh đi xem, chia nhau học lỏm từng vai rồi về nhà lắp ráp lại cùng tập. Khoảng cuối năm 1938, Nghị Lập ban nổi tiếng từ hồi Sán Nhiên Đài, từ Hà Nội về Thái Bình hát ở rạp Tập Thiện ba đêm ba trận cười. Ông Tổng chẳng mua vé cho số đào kép lên xem mà còn mời được họ về Sáo Đền hát hàng tuần.Gánh hát đang làm ăn nổi đình nổi đám thì không may, cuối năm Kỷ Mão (1939), ông Tổng Tố mất, gánh sang tay ông Cả Hiệt.

Ông Cả Hiệt là con trưởng ông Tổng Tố. Ông Hiệt từng theo gánh hát nhiều năm, đóng vai như thư sinh bên chèo, vai Thái sư bên tuồng, đều được ông Hai Tạo rất khen ngợi. Vợ ông Hiệt là bà Nguyễn Thị Mận đóng các vai Cúc Hoa, Ngọc Hoa, Châu Long bên chèo hay Tam cung Nguyệt Hạo, Lý Mẫu bên tuồng đều rất hay. Ông Hiệt chủ trương đưa gánh hát làm ăn kiểu phường hội để tự kiếm sống như các gánh hát Khuốc lớn, Khuốc con bên Cổ Khúc. Nhưng do bị hạn chế nhiều mặt, chỉ sau 5 tháng, gánh hát này phải tự tách ra. Hai em  Tống Hiệt là ông Đinh cùng vợ con kéo theo vợ chồng, con cái ông Tích lập gánh mới gọi là gánh ông Đinh. Vợ chồng ông Tân cùng các ông Trắm, Chép, Tỵ, bà Mùi, bà Lài sang lập gánh mới chỉ chuyên hát chèo do ông Trương Nguyễn gióng dựng gọi là gánh hát ông Trương Nguyễn.

Gánh ông Đinh cố gắng lắp ráp mấy vở chèo vẫn được bà con thích xem như: Quan Âm, Lưu Bình – Dương Lễ, Kiều với Hoạn Thư, mấy vở tuồng Phụng Nghi Đình, Chiêu quân Cống Hồ và vở cải lương Nhân tình thế thái, tên mới của vở Trận cười thứ năm. Rong ruỗi đi biểu diễn tới hơn 7 tháng tới nhiều nơi ở Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, có lần gánh dự thi hát đám ở Thiệu Hóa (Thanh Hóa), gánh ông Đinh đoạt giải nhất, gánh ông Cả Ổn nhận giải nhì. Một lần, gánh ông Đinh cùng gánh ông Cò Mược được làm lễ tế tổ giữa sân đền vua Đinh tại  Hoa Lư (Ninh Bình).

Ông Trương Nguyễn tên thật là Đinh Thọ Nguyễn, làm trương tuần ở An Lão, nhà khá giả, lại có chữ, me hát chèo, đứng ra làm trùm gánh. Ông Trương mời kép Tân lo các việc ghép trò, xếp vở, bổ vai, giao tiếp, xin đám… Kép Tân là người bạt nghiệp, năng nổ gây được tiếng vang cho gánh suốt mấy huyện hữu ngạn, tả ngạn sông Hồng. Bà con mấy huyện bên Hưng Yên, Hà Nam ngày ấy rất khen kép Trắm, đào Lái đóng Trương Viên, Thị Phương hát Chi vải vu quy ngọt ngào xoắn xuýt như đôi sam. Bà Tân sắm vai Chiêu Quân làm nhiều người rơi nước mắt. Vai hề Ty có ló mặt ra là chị em cười nắc nẻ.

Cuối xuân Tân Tỵ (1941), hội Sáo Đền lại mở, làng xếp gánh ông cả Hiệt hát đêm mở đầu với tích Từ Thức lấy vợ tiên, gánh ông Đinh hát đêm giã hội với trò Lưu Bình – Dương Lễ. Gánh ông Trương Nguyễn hát đêm thứ hai với trò Kim. Kiều gặp gỡ. Vì hát đêm thứ hai, Kép Tân phải chuẩn bị thật chu đáo, như việc thêm câu “gà bộ” cho cặp kép Trắm đào Lài đóng Kim Trọng với Thúy Kiều, hát sao cho thật ấm áp, đằm thắm. Nhắc hề Ty đóng sao cho làng cười hóm mà không được thô, nhắc đôi Mùi với Chép đóng Thúy Vân, Vương Quan  nói sử cho rành rọt, cốt dặm trò cho đậm đà, làm sao chiếu diễn không bộn người cũng không trơ thừa. Năm ấy, gánh Khuốc con của ông Ba Đối hát Nhị độ mai Chiêu Quân cống Hồ liền hai hồi hai đêm. Gánh ông Lý Mỹ ở Việt Thuận hát tích Phan Trần. Sau hội, gánh ông Trương Nguyễn được xếp giải nhất do cặp- Kim Kiều ra vai đằm thắm, thanh nhã, bà con rất cảm mến. Gánh ông Trương Nguyễn do kép Tân (Hoàng Nhật Tân) còn đưa đi hát được một năm nữa. Ông Trương không còn điều kiện hỗ trợ về kinh tế đành để anh em tự quản.

Kép Tân đứng ra lập gánh hát mới hát cả chèo và tuồng, với những đào kép cột trụ cũ: Các Kép Trắm, Chép, Tân, Tỵ và đào Gái (tức bà Tân), Mùi, Lài cùng số trẻ theo tập nghề như: Lai, Phổ… cuối năm 1943, gánh phải tập thêm cả cải lương như vở Trót tay nhúng chàm, Đời cô Phượng… Tới năm Nhật đảo chính Pháp thì các gánh hát dần nghỉ.

Sân khấu hát rạp ở Thành Phố Thái Bình

Hồi đầu thế kỷ XX, khi mới thành lập tỉnh, thị xã Thái Bình có rạp hát Bát Tiếp chứa được hơn 100 khán giả, và rạp Đốc Quýnh sau đổi thành Odeon dành cho chiếu bóng. Năm 1930, Hàn Phúc chủ trì xây rạp Tập Thiện trên nền rạp Bát Tiếp cũ. Rạp Tập Thiện cho gánh hát của ông xã Khúc bên Nam Định thuê từ năm 1933. Cuối năm 1938, bà cửu Tuệ ở Bồ Xuyên chứng kiến cảnh khách xem chen chúc mua vé của Lập Nghị ban trước của rạp Tập Thiện, nên đã tính chuyện kinh doanh hát xướng. Bà giao cho Hép Hãng, em chồng trông coi. Kép Hãng là học trò trò ông Tôn, bạn với ông hai Tạo đóng chèo và tuồng vào loại khá. Ban hát gồm phần nhiều là con em đang học nghề ở gánh ông hai Tạo, nay được bà cửu gọi sang, hứa trả lương hàng tuần theo mức hat 4 đêm. Rạp cũng thuê 4 đêm 1 tuần, nhưng kép Hãng ít chữ lại chậm, không đối phó kịp với cung cách hát thường xuyên trên 1 sân khấu cố định, nên cố gắng diễn cả tuồng và chèo mà sau vài tháng đã rơi vào tình trạng vắng khách nghiêm trọng. Bà cửu Tuệ thấy kép Thiện là kép nhất của gánh ông hai Tạo nên đã vận động để nhường gánh hát.

Kép Thiện tên đầy đủ là Nguyễn Thiện, con trai ông Hai Tạo do Hãng và ông cửu thỉnh cầu, ông hai Tạo bằng lòng để con trai và con dâu sang giúp kép Thiện, Kép Thiện hát chèo hay và không kém cạnh kép Phẩm ở Lập Nghị ban, Hà Nội, hoặc kép Đối ở gánh Khuốc con. Từ năm 1942, ông Thiện lại gánh của cha là ông hai Tạo. Bà con gọi là gánh hát ông Thiện từ đấy.

Giữa năm 1941, bà cửu theo gánh nhà về hội Sáo Đền mời được ông Tích cáng đáng mọi việc. Vợ chồng Kép Tích kéo theo vợ chồng kép Thiềng, từ giã ông Định và bà con sang gánh hát mới. Chuẩn bị trò diễn đi hát lưu động cả chèo và tuồng, ban hát của bà cửu Tuệ chuyển thành gánh hát ông Tích từ đấy.

Thời ông Tổng Tố, đến hội Sáo Đền còn thấy gánh hát của ông Phó Đán trên Minh Lãng. Gánh hát này có Tống Trân Cúc Hoa, Trương Viên, nhưng bà con An Lão mê nhất là trò Quan Âm du địa phủ. Ông Phó Đán là Lý cựu trong làng, nhà khá giả, biết chữ Hán, thời trẻ theo ông Đồ Ngật bên kia sông đi hát hàng chục năm; chuyên làm hề, nhưng khi làm trùm gánh ông mới chịu thu nhận nữ và cũng chỉ có bà Liên chứ phải vai mụ thì ông giao cho ông Kỷ người Nguyệt Lãng, đóng hề đã có ông Bàn bên làng Mùi. Năm 1943, ông Phó giao gánh hát cho ông Lý Bạt bên đồng đại, ông Lý cũng đã từng là kép hay thời ông đồ, khi làm Lý trưởng mới nghỉ, nay lại đứng ra nhận trách nhiệm trùm gánh. Đến năm 1944 thì gánh nghỉ.

Tham gia hát ở Sáo Đền những năm cuối thập niên 20 và 30 còn thấy gánh ông đội Tý, gánh ông Lý Mỹ tức Vũ Đình Mỹ- Lý trưởng Việt Thuận. Đáng chú ý là cuối năm 1942, ở Thuận An có thầy giáo Thiếp làm hương sư dạy học trong xã từng được xem ban kịch Thế Lữ diễn ở Hải Phòng năm 1938. Thầy Thiếp tập hợp một số anh em “Tây học” lập ban hát. Thầy có ý bắt chước chèo cải lương của ông Lý Nghị hát trên thị xã  mấy năm trước,  nên tổ chức diễn kịch những đêm lửa trại. Thầy giáo Thiếp cho diễn trên các sân đình làng vở Mảnh gương nhân thế của Nguyễn Đình Nghị, rồi năm sau diễn vở Tứ đổ tường, vở cải lương nổi tiếng ở miền Nam những năm 30 thế kỷ trước của Đặng Công Danh, có chen vào dăm câu hát chèo như nói sử, sa lệch, hát sắp được bà con và nhất là nam nữ thanh niên rất ủng hộ. Tuy nhiên, hương lý các làng e dè,  không giám nhận ban hát của thầy giáo Thiếp đến diễn.Đầu năm 1944, thầy giáo lập gia đình thì ban hát cũng giải tán.

Các vùng hát chèo khác

Ngoài ba vùng chèo nói trên còn có gánh ông đồ Ngật, tức Quách Văn Ngật, người làng An Lập nay thuộc xã Hồng Giang, huyện Đồng Hưng. Ông đồ Ngật khi ấy đang dạy học ở làng Xuân Hòa nay thuộc xã Thái Mỹ, huyện Thái Thụy quen biết nhiều và rất thích chèo. Ông tập hợp những người biết hát và thích hát chèo về nhà tập dượt để rồi sang xuân đi diễn giúp vui bà con, không nhận thù lao. Gánh hát của ông đồ Ngật đi đến đâu cũng được bà con đón tiếp niềm nở.

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ở làng Thanh Nê nay thuộc xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, có gánh ông hai Giám tức Vũ Văn Giám hát chèo nổi tiếng cả vùng . Gánh hát có hơn chục đào, kép, nhạc công như ông Trí đóng thư sinh, ông Tích đóng lão, ông Ương đóng hề, bà Nga đóng đào, bà Mơ đóng Mụ. Về tích trò co Trương Viên, Lưu Bình – Dương Lễ, Quan âm dư địa phủ... Ông Ương làm hề sắc sảo, bà Nga đóng ông lái đò xem như thật, ông Phó Trí đóng vai ông Mãng say rượu bét nhè thật khéo. Gánh ông Giám từng đi hát ở các hội Sáo Đền, Đồng Xâm, Lơ, Vũ Lăng…

Gánh ông Hai Ích do ông kép Ích tập nghề từ gánh ông Đinh lập ra. Ông đóng vai thư sinh cũng giỏi mà làm hề cũng tài. Chỉ mấy năm sau, ông đã trở thành trùm gánh ở An Xá nay thuộc xã Thanh Tân huyện Kiến Xương. Ông Hai Ích có ông Thơ Dụng giọng trong như giọng đàn bà, sắm vai Thị Mầu hát múa rất hay. Bà Mơ đóng bà Sùng rất giỏi. gánh này còn có kép Mùi, đào tư hát múa ra trò đều thuần thục.

            Ở làng Thượng Gia nay thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương , trước năm 1945 có gánh hát của ông Cửu Huyền thức Phạm Hữu Huyền. Ông Huyền đi lính đóng đội được phong cửu phẩm khi về nhận gánh hát từ tổng Nẫm. Ông Nẫm  làm trùm gánh khi ấy chưa đến 40 tuổi, đến năm mừng thọ 60 tuổi mới trao gánh cho ông cửu. Gánh ông cửu Huyền hát cả chèo và tuồng. Hội làng ra lệ gánh hát phải có trò diễn ba đêm, trò hay sẽ được thưởng hậu. Trò diễn có Kim Kiều gặp gỡ, Lưu Bình – Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính, Quan âm dư địa phủ. Đào Kép thì có Hỷ làm hề, ông Học đóng Kim Trọng, Lưu Bình, Bà Riêm đóng Thị Kính, phật, Mục Liên,, bà Phong vốn là nhà trò vào đóng Kiều hát bài đàn của ca trù, bà Thiệt đóng mụ Sùng… gánh hát của ông Nẫm hay ông cửu Huyền mỗi năm chỉ hát dăm bảy hội làng thân quen, lây vui làm chính, hết tháng giêng ai nấy lại trở về nghề kim hoàn để kiếm sống. Cho nên trước ông tổng Nẫm, làng có gánh hát nào nữa không thì không ai còn nhớ.

            Gánh hát ông phó Cần ở Quang Lịch, Kiến Xương xưa là Luật Nội, Luật Ngoại, Luật Trung có bảy người, chỉ có bà Trần Thị Liên là nữ. Gánh hát có trò Trương Viên và Quan Âm Thị Kính. Bà Liên khi đó mới 16 tuổi đã tập đóng vai Thị Màu. Năm bà Liên 18 tuổi, một lần gánh vào hát ở sân hội Đồng Xâm vào trò Quan Âm Thị Kính, bà Liên sắm vai Thị Màu, đang hát giữa chừng câu bình thảo, thân lượn vòng, mắt đong đưa, tay uốn nửa vòng, tay phẩy lá quạt hất nhẹ “sạt” cằm Tiểu Kính thì trống chầu “cắc” lên giòn giã buộc trò dừng lại. Một quan khách bước lên chiếu diễn, thưởng cho bà Liên một đồng bạc. Một đồng bạc ngày ấy được gần hai yến gạo. Ông khoá San thấy thế đến nói với gia đình  xin bà sang gánh ông tổng Tấn.

            Ông khoá San người Luật Nội, Luật Ngoại, giỏi Hán, giỏi Nôm. Năm 1911, sang trường Nam thi khoa cuối cùng bị hỏng, về nhà dạy bảo dăm con trẻ và nhận với làng đứng đầu ban hát. Ban hát chỉ có chín người, một năm giúp vui với bà con vài đêm hội là chính về trò có Quan Âm trò, Trương Viên trò và Mục Liên địa tạng; có bác Nhiêu Sắc làm hề, bác Khế đóng đào, bác Khôn đóng mụ, ông Khoá San đóng lão rất có duyên.

            Ông Vũ Tấn biết chữ Hán và chữ Quốc ngữ, nhà giàu khi lên làm chánh tổng, ông ép ông khoá San nhường gánh hát cho mình nhưng vẫn mời ông khoá trông nom việc hát xướng cho một bác thơ. Ông khoá làm trưởng ban hát năm 23 tuổi đến năm 48 tuổi thì nhường lại cho ông tổng Tấn khi ấy mới 35 tuổi. Gánh hát lúc ấy bấy giờ gồm 5 đào, 5 kép, 3 nhạc công và 2 kép trẻ tập nghề. Ông thơ San đóng lão khó ai sánh nổi. Ông Bí đóng vai ông Mãng; ông Thuỷ, ông Mão đóng thứ sinh. Ông Ty ra vai phù thuỷ hoặc cô đồng, bà hoè đóng vai mụ còng chống gậy, bà Ly đóng vai mụ Sùng, mụ Quán, bà Sừ, bà Theo hát ca trù. Ông khoá cử bà Liên hoặc bà Sừ, bà theo môn ca trù rồi vai đào chín. Những năm thập kỷ 30 thế niên trước, gánh ông tổng Tấn nổi tiếng cả phủ Kiến Xương về những tích chèo Quan Âm Thị Kính, Phan Trần, Từ Thức, Kim – Kiều gặp gỡ, Hoạn Thư đánh ghen

            Ở Kiến Xương, trước những năm 1945 còn có gánh chèo ông tổng Uẩn ở Đông Trung và gánh chèo Đồng Vàng, nay thuộc xã Vũ Ninh nhưng ít ai còn nhớ.

            Làng Ngọc Động, nay thuộc xã Thuỵ Phong, huyện Thái Thuỵ, trước những năm 1945 có gánh hát ông Được. Gánh này có các ông thơ Nhẫn, Mảng, Biệt, Ngói; bà Mải, cô Soi, cô Bài… Về trò có Lưu Bình – Dương Lễ, Phật bà Mục Liên và cả tuồng Tiết Nhân Quý. Nghe nói làng Ngọc Động trước đo còn có gánh hát ông Chưởng Oai, không ai còn nhớ diễn những tích gì.

            Ở làng Tu Trình, nay thuộc xã Thuỵ Hồng, huyện Thái Thuỵ có gánh hát ông Giao, gánh hát này có kép Hợi đóng lão, cô Hoà đóng Trình Trại, xã Thuỵ Hà đóng vai đào chua, đào ngọt. Có hề Tái rất giòn trò. Ông Giao đóng Mãng ông. Ông Hợi đóng Sùng ông, rồi lại đóng Phú ông mà vai nào rõ ra vai ấy, làm nghệ nhân chèo có tiếng trong tỉnh cũng phải nể. Ông Giao tên thật là Trần Quang Giao, từ năm mười chín đôi mươi đã quy tụ hát chèo rồi theo phường của ông phó Quyền. Lúc ấy phường có 8 người hát chèo Thập ân, hát chèo đò và đóng trò Mục Liên địa tạng. Về sau trong làng có người thông gia với bên Hà Xá, học lén được trò Quan Âm, trò Lưu Bình – Dương Lễ, sau khi diễn thử ở hội làng rồi mới dám đi hát ở hội đình An Cố, hội làng Quang Lang. Ông phó Quyền về già trao gánh sang cho ông Giao. Năm ấy ông Giao 37 tuổi là người có chữ lại giỏi nghề, anh em rất mến phục. Ông tuyển thêm cô Xuề, cô Xoà phân vai cho rồi đi diễn ở hội làng Giắng, hội Đồng Xâm và một lần về cả thị xã Thái Bình.

            Ở Phụ Dực cũ, có phường tuồng An Vũ do chánh tổng Lân đứng trùm, hát các vở Quan Công, Đào viên kết nghĩa, Chinh đông Chinh tây; có các nghệ nhân như ông Tược, ông Oanh, bà Sâm, bà Son… Nhưng mỗi khi tuồng An Vũ sang hát ở hội đền Đồng Bằng thì phải hát ít nhất một đêm chèo Mục Liên địa tạng hoặc Quan Âm Thị Kính hay Sùng Sơn thánh mẫu. Có người còn nhớ ông tổng Lân làm trùm năm 1926. Ở An Vũ còn có gánh tuồng của ông ông cai Soát, một người rất mê hát tuồng. Sau ông đi cai lính nhập vào đội hát của ai đó trên tỉnh. Khi về tập hợp những người thích hát trong xã lập thành gánh hát tuồng. Khoảng năm 1918-1919, phường tuồng An Vũ về tỉnh hát đọ với gánh hát của ông cả Tôn.

            Có mấy gánh hát tuồng mà người đứng đầu tham gia hoặc liên quan tới các phong trào yêu nước chống Pháp hồi cuối thế kỷ XIX. Đó là gánh hát của ông khoá Toản ở vùng chéo Sáo Đền. Ông tên thật là Nguyễn Quang Toản, biết chữ Hán từng theo các bậc đàn anh dấy nghĩa thời Cần Vương. Sau, các bậc đàn anh bị Tây bắt, anh em thất tán mỗi người một nơi, ông về làng dạy học và lập gánh hát chèo. Ông chỉ mời một số anh em thích chèo và ghét tây. Không cho chị em tham gia. Có lẽ ông sợ lộ ý đồ riêng của mình. Ban đầu, gánh của ông chỉ tập Lưu Bình – Dương Lễ mà ông cho là có ý nghĩa trước tình thế rối ren ngoài xã hội, nhằm đề cao tình bằng hữu, dạ sắt son chê trách kẻ ham chơi, lười học. Vài năm sau, ông cho tập thêm trò Quan Âm Thị Kính và khuấy vào lớp Làng vắt vạ để kín đáo châm biếm bọn lý dịch tham nhũng dâm dật đầy rẫy trước mắt. Khi ông Đội Tý tức Đinh Văn Tý đăng lính sang Pháp, được phong chức đội nghỉ hưu về làng, được cụ khoá mời bảo trợ gánh hát. Vài năm sau, ông khoá Toản già yếu, xin nghỉ, gánh hát về tay ông đội thì ý đồ riêng của gánh hát đã đổi khác.

            Làng Tả Phụ, nay là xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, trước kia cũng có một gánh chèo. Nghe nói người làng hát chèo từ hồi bác hề Vung và có thể trước nữa, vào đầu năm 1915. Về lai lịch gánh chèo làng Tả Phụ mấy chục năm trước, các cụ kể lại rằng: Năm Đinh Dậu (1897) ông sư Dù ở chùa Lãng Đông thuộc tổng Đường Thâm, Kiến Xương vờ làm chay ba ngày, thực chất để tập hợp nghĩa binh rồi xưng là thiên binh (quân nhà trời), trưng cờ Bình Tây diệt Nguyễn, kéo lên đánh chiếm thị xã Thái Bình. Lúc đầu, nghĩa quân gây cho bọn quan lại hoang mang. Nhưng rồi bọn Tây trấn tĩnh lại được, dùng súng chống trả và đánh bại nghĩa quân. Thôn trưởng Tả Phụ năm ấy là ông Nguyễn Bổn bị Tây ghép vào tội đồng loã với quân phiến loạn. Ông thôn Bổn cùng người em là ông Nguyễn Côn bị Tây chém đầu. Khi ấy cụ Vũ Văn Khang làm chánh tổng bị bắt giam ở phủ Kiến Xương. Tây chưa kịp hành quyết thì có lệnh khoan hồng của Toà Thống sứ. Thực chất vụ bạo động này nằm trong phong trào Kỳ Đồng – Mạc Đình Phúc. Sau khi phong trào bị Pháp đàn áp thì khắp mấy tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình, Nam Định nổi lên phong trào lập đàn thiện đàn sinh xuất hiện thơ giáng bút. Năm Canh Tý (1990), làng Vân Tả Phụ có Phụ Nhân đàn và khắc ván in thành tập với tên đề Hồi thuần chân kinh đệ nhất tập. Năm Tân Dậu (1921) lại in Hồi thuần chân kinh đệ nhị tập; cả 2 tập đều do ông Vũ Ngọc Oanh thân sinh ông Khang bỏ tiền khắc ván in bằng chữ Nôm. Nội dung của cả hai tập đều khơi gợi tinh thần yêu nước, thương nòi. Năm Ất Mão (1915) ông Vũ Văn Khang sau khi đươc bầu huyện hào, đứng ra thành lập phường chèo của làng. Mọi phí tổn gia đình ông đều đảm nhiệm. Lúc đầu, ông chọn con cháu trong họ, ngoài làng, những người có giọng tốt, có dáng người ông mời thầy về dạy hát. Suốt mấy tháng trời, đêm nào sân nhà ông cũng có mấy chục người học hát chèo. Ông Hào mời các thầy ở phường chèo Bích Kê, nay thuộc xã Quốc Tuấn , huyện Kiến Xương; xuống dạy là các ông Phạm Kha, Phạm Quỹ, Phạm Trại. Khi đã phân biệt được nhịp nội, nhịp ngoại, các thầy dạy hát câu đường trường, đường trường phải chiều, đường trường tiếng đàn, đường trường bắn thước. Dạy hát sa lệch thì có sa lệch bằng, sa lệch chênh. Dạy hát sắp thì có sắp thường, sắp cổ phong, sắp qua cầu. Rồi dạy nói sử, nói đếm, hát sử xuân, sử dầu. Các điệu hề: Hề môi, hề gậy, hề mồi sư cụ, hề mồi thằng cu bé, thằng cu lớn… Có người học nhị, học đàn, học trống, gõ thanh la. Ban ngày, người đóng cối xay tre ở nhà, người ra đồng làm ruộng, ở đâu cũng nghe tiếng hát chèo của người làng. Ông Hào có sáng kiến: sau một tháng cho thi hát, người nào hát đúng phách, đúng nhịp trống, hát hay, được thưởng từ hai đến năm xu. Người kéo nhị hay, thổi nuột, trống gõ dòn mõ và thanh la đúng nhịp cũng đều có thưởng. Con cháu trong họ, ngoài làng hào hứng học hát rất đông, được hai tháng lời ca tiếng hát đã nhuần, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng nhị, tiếng trống đã quyện, các thầy cho học lời các tích trò. Học lời trò Trương Viên, các thầy chọn một cậu con trai 17-18 tuổi, mặt trái xoan, thân hình mảnh mai, giọng kim, dài hơi, học lời sắm vai Thị Phương. Rồi chọn người học lời sắm vai Trương Viên; ở trò Quan Âm Thị Kính thì chọn người học lời vai Thị Màu, Thị Kính, Thiện Sỹ, ông Mãng, bà Sùng, ông Sùng, anh Nô… Rồi tập trò Kim Nham, chọn người học lời vai Suý Vân, Kim Nham, Trần Phương, Phù Nô… Các thầy dạy nhiều bài hát ở nhiều vai, nhiều trò. Lúc đầu các cô gái chỉ ngồi xem rồi khúc khích cười, sau các cô bớt thẹn thùng cũng xin thầy học hát. Khi mấy cô hát đúng, hát hay, các thầy dạy học lời, sắm vai. Thế là sau sáu tháng, trò Quan Âm Thị Kính đã được tập thành thạo. Cô Mai xóm Tây đóng Thị Kính, cô Hênh xóm Đông đóng Thị Màu, anh Hấn đóng Thiện Sỹ, anh Hân đóng Sùng ông, cô Tẹo đóng Sùng bà, anh Nghiêm đóng vai anh Nô… Nhằm vào đúng đêm 16 tháng 7 năm Ất Mão (1915), phường chèo làng Phụ ra mắt bà con ở giữa sân đình. Sau vai giáo đầu, Thiện Sỹ bước ra, quần trắng áo the hoa, khăn nhiễu tam giang, tay cầm quạt giấy trổ con công, trông thật dáng thư sinh. Sau câu xưng danh, tự giới thiệu mình tồi nói sử.

            Rồi lớp Thiện Sỹ - Mãng ông, lớp vu quy, Thị Kính và Thiện Sỹ múa hát bài sa lệch bằng.

            Đào kép múa dẻo, hát hay, bà con các làng đến xem “xuýt xoa” ao ước làng mình cũng có gánh chèo.

            Kết thúc trò là lớp chạy đàn vui vẻ, rộn ràng náo nhiệt, khơi gợi tình cảm người xem.

            Sau đêm ra mắt, phường chèo làng Vân Tả Phụ náo nức một vùng. Cả làng vui mừng, phường chèo được cổ vũ, tiếp đó họ học sang các trò Trương Viên, Kim Nham trích đoạn Tuần ty đào Huế,.. Gánh chèo làng được mới đi diễn ở nhiều nơi trong huyện, phủ. Mỗi khi đi các nơi, kép hát, nhạc công mặc áo the, quần trắng, đầu đội nón dứa, chân đi giầy Gia Định, giầy Ký Long. Các cô đào mặc váy lụa đen, áo tứ thân, thắt lưng bao xanh, đầu đội nón quai thao, chân đi giày vải, tay cầm quạt giấy. Đi đến đâu người ta cũng khen và nể trọng phường chèo ông chánh Đồng Xâm. Ông Hào cưu mang phường hát mãi đến năm Ất Sửu (1925) năm hội đền, phường chèo mới tạm ngừng, nhường chỗ cho các gánh hát chèo Khuốc, chèo Sáo Đền, gánh chèo ông trùm Thịnh về hát đấu cạnh tranh khách ở các ngày hội đầu tháng tư âm lịch.

Theo Địa chí Thái Bình

 

In bài viết   Đóng lại