Khởi nghĩa Phan Bá Vành (1811-1827)

11/06/2013


Khởi nghĩa Phan Bá Vành không những là cuộc khởi nghĩa nông dân điển hình vùng ven biển Thái Bình – Nam Định, mà còn là trung tâm của phong trào nông dân các tỉnh miền đồng bằng Bắc Bộ.

Cập nhật, ngày11/06/2013

            Khởi nghĩa Phan Bá Vành không những là cuộc khởi nghĩa nông dân điển hình vùng ven biển Thái Bình – Nam Định, mà còn là trung tâm của phong trào nông dân các tỉnh miền đồng bằng Bắc Bộ.

            “Khắp địa hạt Bắc Kỳ là vùng Hoan Ái thuộc Tả Trực Kỳ, phán những kẻ bất trị nghe tiếng Vành thì tụ hội đông như kiến” (Theo Trần chi tộc phả). Bài ca kể chuyện Phan Bá Vành có câu.

Quân ngài khéo kiếm

Chọn những quân ròng

Xứ Bắc cũng lắm, Xứ Đông cũng nhiều

Cả từ Mường, Mán cũng theo về đây

            Vào thời Minh Mệnh, ruộng đất công làng xã càng thu hẹp, chỉ còn chém tỷ lệ 17% (580.263 mẫu), trong khi tư điền chiếm 83% (2.816.221 mẫu). Ở Thái Bình tỷ lệ đó là 30,3% (14.229 mẫu), so với 69,7% (32.955 mẫu).

            Ruộng đất tư tập trung gần 90%, trong một số đất trong tay địa chủ lớn có từ 5 đến 50 mẫu /điền chủ. Đại đa số nông dân nghèo không có ruộng đất, và cũng không có, hoặc có rất ít công điền quân cấp, lại bị tai họa bão lũ, đói kém triền miên, dẫn đến tình cảnh làng xã tiêu điều, dân nghèo tha phương cầu thực. Từ 1802 – 1858, cả nước trải qua 38 trận bão lụt, 16 lần vỡ đê, hầu như cả nước đồng bằng Bắc Kỳ bị ngập lụt. Năm 1806, theo báo cáo của quan lại Thành Bắc kỳ, hơn 370 thôn xã có dân phiêu tán; 13 hạt trong trấn Hải Dương có dân bị kém và phiêu tán gần 108 thôn xã, bỏ ruộng hoang hơn 12.700 mẫu; cho đến cuối những năm 30, diện tích ruộng đất hoang hóa  lên đến 1.314.927 mẫu (Theo Quốc triều điều lệ lược biên). Chế độ thống trị thời Gia Long, Minh Mệnh càng chuyên chế nặng nề. Năm 1829,  Minh Mệnh bỏ chế độ thế tập của các thổ ty, tù trưởng miền núi, áp dụng chế độ lưu quan, bị các dân tộc và các tộc trưởng vùng núi mất mãn chống lại. “Thời Gia Long quan lại bóp nặn dân nghèo bằng đủ cách… thuế khóa và lao dịch tăng lên gấp 3 lần”. Chính Nguyễn Công Trứ cũng thừa nhận sự bóc lập của giới quan liêu và  lớp cường hào làng xã trong sớ điều trần: “Cái hại quan lại một hai phần, thì cái hại cường hào đến tám chín phần”.

            Bị đẩy vào lam lũ bần cùng, dân các vùng làng xã trên các vùng rộng lớn lũ lượt theo Phan Bá Vành chiến đấu giàng quyền sống.

 

            Về Bộ chỉ huy quân khởi nghĩa Phan Bá Vành

            Bên cạnh chủ soái Phan Bá Vành, Bộ chỉ huy nghĩa quân còn có các tên tuổi như. Tổng Cẩn, Vũ Đức Cát, Nguyễn Hạnh, Ngô Trác Quán,…

            - Phan Bá Vành, quê làng Minh Giám, huyện Vũ Tiên (nay là xã Vũ Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình), xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo. Mẹ là Mai Thị Vẻ, quê làng Cội Khê (tức Hội Khê, huyện Vũ Tiên, Thái Bình). Theo Ngô Thế Phả, ông tổ xa là Ngô Kinh, Ngô Từ, vốn là khai quốc công thần đời vua Lê Thái Tổ, Ngô Từ là cha đẻ của Ngô Thục, hoàng Thái hậu mẹ đẻ cháu Lê Thánh Tông. Đến khi về nhà Mạc lập họ Ngô sợ bị hãm hại, đổi thành họ Phan (đời Phan Chính Nhiệm), sau đó sang lập nghiệp ở làng Minh Giám, Vũ Tiên (đời Phan Tấn Minh). Từ Phan Tấn Minh đến Phan Bá Vành là đời thú 5. Với thân phận một nông dân nghèo khổ không tấc đất cắm dùi, bố mẹ làm nghề bán cá giống và nghề chèo đò sinh nhai, Vành sớm cảm nhận được cảnh khổ của đại đa số dân nghèo, vốn có sức khỏe, lại giỏi võ nghệ, kế thừa truyền thống danh gia vọng tộc dày công lao hiển hách với dân với nước, nên ý chí chống áp bức, cứu dân lành càng nung nấu trong ông. Những cơn bão táp của phong trào nông dân vào thế kỷ XVIII ở vùng đồng bằng ven biển Thái Bình, Nam Định, nhất là những tiền bối trong phong trào nông dân Tây Sơn như Vũ Đức Cát, Ngô Trác Quán,… đã thôi thúc Phan Bá Vành đứng lên làm cuộc khởi nghĩa.

            - Tổng Cầu (tức Chánh tổng Nguyễn Hữu Cầu): là một phú hào có thế lực trong vùng, cùng quê làng Minh Giám, Nguyễn Hữu Cầu sớm cùng sát cánh Phan Bá Vành, bí mật chuẩn bị lương thực, lập căn cứ đầu tiên tại bãi biên Tiến Châu. Sau đó, ông cùng Phan Bá Vành, nổi dạy khởi nghĩa ở núi Voi (huyện An Lão, Kiến An).

Nguyễn Cầu, Phan Liễu, Bá Vành

Tế cờ Voi Phục, tung hoành bốn phương

Tướng hùng binh mạnh phi thường

Đánh miền Duyên hải mở đường vào kinh.

(Ca giao địa  phương)

            - Vũ Đức Cát: Là quân sư là tướng chỉ huy thủy quân tài giỏi. Ông nguyên là tướng cũ của triều Tây Sơn. Tai ngôi chùa Đông, xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, còn một quả chuông ghi niên hiệu năm Cảnh Thịnh thứ 6, Mậu Ngọ (1798), triều Tây Sơn; trong đó có hàng chữ “Man Trung xã, Hội chủ Đô ty quan Vũ Đức Cát, thê Vũ Thị Định, từ Vũ Văn Dung cung tiễn tam quan” (Hội chủ người xã Man trung là quan Đô ty Vũ Đức Cát, vợ là Vũ Thị Định, con là Vũ Văn Dung cúng ba quann tiền). Tài liệu này khẳng định Vũ Đức Cát đích thực là tướng cũ Tây Sơn, giữ chức quan Đô ty. Theo quan chế thời Hồng Đức thì Đô  ty là quan giữ việc phong thủ ở những nơi xung yếu, có phẩm trật vào hàng tam phẩm. Cũng tại xã Nam Hải, trong ngôi chùa làng An Hạ, trên quả chuông đề niên hiệu “Gia Long thứ 18, Kỹ Mão” (1819), có hàng chữ: “Man trung xã, thủ ngự Lạt hải môn, khâm sai cát đội Cát ngọc hầu Vũ Đức Cát” (Người xã Man Trung làm quan Thủ ngự của Ba Lạt, Khâm sai cai đội cát ngọc hầu là Vũ Đức Cát). Đây lại thêm bằng chứng xác thực nữa khẳng định quê hương của Vũ Đức Cát là xã Man Trung nay là xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, hiện nay xã Nam Hải còn có di tích nền nhà thờ của Vũ Đức Cát, nhân dân địa phương gọi là “Dinh ông Đô” hoặc là “Dinh Trung Lang”

             (vì nền nhà cũ đó nằm ở phía đầu làng Trung Lang, xã Nam Hải, cách đê sông Hồng – cửa Ba Lạt 5 km). Sau khi Vũ Đức Cát mất, dân làng Trung Lang lập miếu thờ ông và suy tôn là “Trung tản Đại vương” (Tư liệu điều tra thực tế do Bùi Quý Lộ và Phạm Ngọc Yên trong ban nghiên cứu lịch sử Đảng huyện Tiền Hải phát hiện)

            - Nguyễn Hanh: Là chiến sỹ trung thành của Nguyễn Huệ. Khi triều Tây Sơn thất bại, Nguyễn Hạnh chạy sang Lào, không hợp tác với triều Gia Long. Đến đời Minh Mệnh, Hạnh vượt biên giới trở về Bắc Kỳ tham gia khởi nghĩa Phan Bá Vành.

            - Ngô Trác Quán: Là tướng cũ của Tây Sơn, người làng Minh Giám khi Quang Trung tiến ra đại phá Quan Thanh. Ngô Trác Quán khởi binh giúp Quang Trung lập nhiều chiến công, được phóng Án sát sứ Sơn Nam Hạ. Ông có ảnh hưởng sâu sắc đến Tổng Cầu và Phan Bá Vành.

            - Trong tầng lớp phú hào tiêu biểu còn có Tri Đạo Cát Già, người huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình. Ông có công lớn bên cạnh Tổng Cầu.

 

Kìa như Tri Đạo Cát Già

Ruộng thì trăm mẫu, cửa nhà rung rinh.

Mà theo Chiêu Liễn Bá Vành.

Đem thân bách chiến, bỏ mình xuống sông

 

            Sau khi  Phan Bá Vành thất bại, Tri Đạo nhảy xuống sông tự tử.

 

            - Trong tầng lớp lãnh đạo còn có nhiều tướng xuất sắc  như Hai Đáng, người Trà Lũ. Ông giữ nhiệm vụ quan trọng về quân lương, nên dân còn gọi ông là Tống Lương hay ông Bắc Lương, bài vè kể:

 

Cấp ruộng Chiêu Liễn Hùng

Hai Đáng, Trần Cuương, Nho Khang

Nho Khương, Ban Hầm, Ba Bất.

 

            Thời gian ở căn cứ Trà Lũ, Hai Đáng giữ chức Tả Quân. Trong trận chiến đấu cuối cùng, ông bị bắt cùng một số tướng lĩnh khác, giải về Bắc Thành và bị xử lăng trì.

            - Một tướng khác của nghĩa quân là Chiêu Liễn, người cùng quê với Phan Bá Vành Chiêu Liễn có học thức và giỏi võ nghệ. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì ông còn có tên khác là, Phạm Đình Lé, là con Sách quận công Phạm Văn An ở huyện Vũ Tiên. Chiêu Liễn cũng là nhà sư Thanh Giáo tu ở chùa Yen Tử, văn võ song toàn, được Vành mời làm quân sư.

            - Thượng đạo tướng quan Ba Hùm người dân tộc Mường. Theo Minh Đô sử. “Binh thế của Vành đã thịnh. Có tên Ba Hùm ở miền Thượng Du – Thanh Hóa. Nghe tiếng Vành, đem 3000 lính Mường Thổ bắn giỏi đi theo. Vành rất mừng, họp quân đánh hạ quân thành phủ Kiến Xương”. Hiện Nay, ở Giao Tiên (Giao Thủy, Nam Định) còn 2 thôn có tên xưa là Thổ Mồ, Thổ Thá, Có thể là chứng tích số quân miền núi của Ba Hùm.

            - Chiến tướng Trần Bá Hựu người Trà Lũ còn có tên là Ba Bất, con Chánh tổng Trần Bá Hổ.

            - Chú họ của Bất Hựu là Trấn Văn, vẫn còn Chiêu Văn, khi Phan Bá Vành kéo quân về Trà Lũ, Trần Bá Hổ dâng Làm Cai tổng, đem dân binh cắt cầu chống cự, nghĩa quân không qua sông được. Chiêu Văn bèn cùng Trần Diễn, Ba Hầm lấy phên tre dàn trên mặt nước làm cầu. Sông rộng chỉ có vài trượng, trong chốc lát quân đã lên hết trên bờ. Tổng Hồ nói “Dữ tợn thay! Không như vậy thì không làm giặc được”.

            - Trần Nhuệ cháu của chỉ huy sứ Trần Hãn, con của Chánh tổng Lãm tham gia khởi nghĩa cùng Hai Đáng, Bất Hựu lãnh chức Tư Quân

            - Phan Khánh nguyên là đội trưởng mãn hạn, có biệt tài đánh voi chiến. Quân Nguyễn thúc voi chiến xông tới, mọi người dạt ra tránh, Kháng cắp giáo xông ra, ôm lấy vòi voi cắt ngang. Voi chạy, nghĩa quân chuyển bại thành thắng (Theo Minh đô sử)

            - Một chiến tướng thân cận dũng mãnh là Vò, người cùng làng với Phan Bá Vành, được vành rất yêu dùng dưới trướng. Trong trật đánh với Trương Phúc Đặng, chính Vò là người đã chuyển mũi tên sắt cho Phan Bá Vành phóng trúng ngực Đặng chết tươi. Những ngày cuối cùng Phan Bá Vành thất thế ẩn nấp trong bụi sú vẹt rồi bị bắt. Vò men theo bờ sông Ngô Đồng, chui vào đám lau sậy thắt cổ chết. Thật là một trang liệt sỹ (theo Minh đô sử )

            Về lực lượng nghĩa quân

            Ngay từ giai đoạn đầu, khi nghĩa quân hoạt động ở Hải Dương đã có tới 5.000 người sau đó, thêm mấy nghìn quân nữa cho nghĩa quân Ba Hùm từ Thượng du Thanh Hóa kéo xuống, cùng với nghĩa quân các tỉnh kéo về, lực lượng của cuộc khởi nghĩa lên tới hàng vạn, Văn tế một có câu:

 

Ngọn cờ phất quân sang Phủ Kiến

Sấm vang tai phỏng bốn vạn dư

Và:

Đầu quân thì ở sông Bo

Cuối quân thì ở tận bến đò Kênh Kem.

 

            Hoặc nói về khí thế của nghĩa quân: “Các phủ huyện theo gió mà lướt, quan quân chết nhiều, hễ quân ra trận thì đem chuyện nhà trăng chối rồi mới đi, cho nên quân Phan Bá Vành đến đây, hết thẩy bọn nơi đều trốn tránh” (Bạn nghịch liệt truyện).

            Hoặc như lời tâu của Thân Duy Nhạc: “Thổ phỉ Bắc Thành tụ họp tại miền đông nam, quan quân đánh tan rồi lại hợp… Bọn giặc họp lại như đàn quạ, tan đi như bầy hươu, không như một nước đối địch, triều đình cử tướng lão luyện, quân tinh nhuệ đều có lòng căm thù giặc mà vẫn chưa thành công”. Nghĩa quân được nhân dân ửng hộ, “hoặc đưa ngầm lương thực cho giặc “giặc ý chỉ nghĩa quân”, hoặc chứa giặcNTkhông báo, thậm chí làm tay mắt cho giặc ngầm báo tin NT để dò quan quân” (Đại Nam thực lục chính biên).

            Phong trào khởi nghĩa từ Hải Dương lan sang Nam Định tớiTây Sơn, những đội lính ở Phủ Lý và Hòa Bình, Văn Yên cũng đi theo nghĩa quân. Nhiều toán nghĩa quân lẻ tẻ nổi dậy ở Sơn Vi (Lâm Thao), Gia Lâm (Hà Nội), Đan Phượng, Phù Ninh (Sơn Tây), Thiên Thi, Tiên Lữ (Hưng Yên).

            Nghĩa quân liên tiếp với nhiều toán quân hoạt động lẻ tẻ trên Tiên Minh, Nghi Dương, Minh Mệnh thừa nhận “Đảng giặc ở Hải Dương nhiều lần chống cự với quan quân thế tất thông đồng với các toán khác. Khiến ta phải chia sức quân đối phó” (Thức Lục). Minh Mệnh còn nói “Dân mọn bị giặc dụ dỗ, một khi thấy quan quân đáng lý phải quay giáo sao mà còn đua nhau cần giáo đánh nhau với quan quân. Đại khái dân không yên phận cày ruộng,  mà rủ nhau làm giặc thì đều có cớ. Làm sao chỉ đổ cho giặc chuyện dụ dỗ” hay “Bị quan quân đánh tan lại hợp, dẫn đàn bà con gái câm giáo mác mà đánh. Các toán giặc như tổ ong, hang kiến, toán nào riêng toán ấy” (Thực lục)

            Diến biến cuộc khởi nghĩa

            Chính sử nhà Nguyễn (Thực Lục), chép đến năm 1826 có “giặc Phan Bá Vành”. Trần tộc gia phả cũng chép:

Đời vua Minh Mệnh lên ngôi.

Giữa năm Ất Dậu sao đuôi ngang trời.

Bỗng đùng đùng bề khơi ngang động.

Giặc Bá Vành ngang dọc một phương.

            Đặng gia thế phả chép: “Nhân lúc triều Nguyễn nhu nhược…Dân tình đói rác, làng xóm tiêu điều. Có ông Phan Bá Vành ở miền đất Thái Bình, nhân nạn đói năm (1821), tập hợp dân chúng chống lại triều đình, được dân đi theo lập căn cứ ở Trà Lũ.

            Hành Thiện xã trí do Đặng Xuân Bảng soạn ghi nhận: “Năm Gia Long thứ 10 (1811), Phan Bá Vành làm giặc ở miền Hải Dương, đã nổi tiếng là một tay kiệt hiệt”.

            Năm 1811 được nhiều người cho là mốc bùng nổ của cuộc khởi nghĩa.

            Những hoạt động ban đầu của nghĩa quân hoạt động ở núi Voi (An Lão -Kiến An) từng làm chấn động miền Duyên hải, Hải Dương.

Nguyễn Cầu, Phan Diễn, Bỏ Vành

Tế cờ, Voi Phục, tung hoành bốn phương

            Các trận chiến tiêu biểu nhất là:

            -Trận Cổ Trai:

            Bấy giờ, quân triều đình đóng ở quân Cổ Trai (huyện Nghi Dương, Hải Dương). Nghĩa quân từ Đồ Sơn tiến đánh, xong vào cửa Tam Giang cướp được một thuyền binh. Sáng hôm sau, nghĩa quân lại kéo quân đến của sông Cổ Trai, Trấn thủ Hải Dương không dám đến cứu nguy, vệ úy và cai vệ cố chống đỡ đều bị chết, binh lính tan chạy, thuyền ghe, khí giới đều bị nghĩa quân chiếm hết. Quốc sử di biên cung cấp thêm mấy chi tiết: “Chỉ huy Vệ Hùng Cự tên là Phú đánh nhau với Đỗ Bá Vinh ở Íc Môn (Văn íc), Phú thua chết trận. Bấy giờ giặc đóng ở gần Đồ Sơn, lính trần hải Dương đóng ở Hu Mục, Lính Hùng Cự đóng ở Cổ Trai tiến đến phá vây và đánh được phá cơ giặc là Thân. Vợ Thân xin cấp quân để giải vây…giặc thuận gió mà bắn; lính đi tuần sông bị giặc ập đến bị bắt hết quân tư khí giới. Trấn Thủ Huyền  chống đánh ở Hu Mục; dùng Bồ quang bằng tre để che đỡ, cầm búa đánh vào chân voi và chém vòi voi. Lại cho vài mười người cầm giáo theo ngựa vào trận xông đánh, quan quân chạy dạt đi: Huyên lui về giữ An Lão. Giặc bắt được Đốc phủ Tiên Hưng, gọt tóc mà tha cho về”.

            -Trận Cồn Tiên.

            Sau khi đánh hai trận của biển Trà Lý, Lân Hải giết cả hai viên thủ ngự, nghĩa quân kéo đến bãi nổi của sông Trà Lý gọi là Cồn Tiền, bố trí trận địa mai phục, đánh tan quân tướng nhà Nguyễn, thu hết khí giới thuyền bè. Trấn thủ Lê Mậu Cúc và một viên quan cơ chết ngay tại trận.

            Ít lâu sâu nghĩa quân kéo về hạ phủ thành Kiến Xương rồi lại rút đi. Bài vè dân gian  kể:

Đem quân ra đánh phủ Bo ba ngày

Đánh rồi lại rút ra ngay

Đánh cho tan tác biết tay Bá Vành

            Theo Minh sử đô: “Thành Kiến Xương bị phá, nhiều người buôn bán ở trấn thành dắt dĩu nhau chạy về làng quê, của hàng đóng cả ngày”. Có người nói Phan Bá Vành thừa thắng đánh thẳng vào Vị Hoàng (thành phố Nam Định) nhưng Vành câu nhắc lợi hại không nghe.

            - Trân Liêu Đông.

            Là trận tập kích táo bạo của nghĩa quân váo doanh trại dã chiến của quân triều đình do thông tướng Phạm Văn Lý chỉ huy, khi đại quân của Văn Lý vừa đặt chân tới địa đầu căn cứ Trà Lũ. Theo Minh Đô sử; “nghe tin Phạm Văn Lý tới, Vành từ Kiến Xương mang quân về, nhân đem 5.000 quân mạnh khỏe vượt qua sông. Quân toàn cởi trần lấy bẹ chối làm khố, tay cầm đao dài lao thẳng xuống sông đánh quân Văn Lý…. Quan của Vành lao vào đánh hai ba lần nhưng không được bèn rút ra”. Trong trận này quan quân không đề phòng đã bị quân giặc đánh bị thua, súng ống, khí giới, thuyền ghe bị giặc cướp rất nhiều” (Thực lục, tập VIII, ta, 178).

            - Trận Trà Lũ

            Sau chiến thắng của nghĩa quân ở Cổ Trai, phủ Bo, Tam Giang, Đồ Sơn, Liêu Đông, Minh Mạng cử Thống chế Trương Văn Minh, các tham hiệp Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đức Nhuận thay Trương Phúc Đặng và phối hợp với trấn thủ Hải Dương là Nguyễn Hữu Thận, phối hợp với các quan quân các trấn Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh tiến đánh nghĩa quân Minh Mạng, cử thêm hai quân cơ Thanh Hóa và Nghệ An đem thủy quân ra chặn đường vùng biển Hải Dương. Nghĩa quân đẩy mạnh hoạt động ở phủ Thiên Trường, Kiến Xương Minh Mạng lại cử phó tướng Ngô Văn Vĩnh điều hai vệ quân ở kinh thành Huế ra Bắc phối hợp với vệ thần sách ở Nghệ An viện trợ. Lại ủy cho viên tướng đắc lực và thông cơ Phạm Văn Lý đem lính, voi hỏa khí chia đường tiến đánh. Phan Bá Vành rút quân về căn cứ để củng cố lự lượng ở Trà Lũ, đào hào, đắp lũy để chống cự lâu dài.

            Trà lũ là cánh đồng lầy lội, úng trũng, mương mạch dầy như mắc cửi, thuận tiện cho việc chiến đấu của nghĩa quân. Trà Lũ lại gần các sông Hồng ở phía bắc, sông Cát, sông Ninh Cơ ở phía đông nam, khi cần có thể rút biển nhanh chóng. Phan Bá Vành đặt đại bản doanh ở cạnh thôn Phú Nhai, nằm khoảng giữa ba thôn Trà Lũ (Trà Lũ Bắc, Trà Lũ Đông và Trà Lũ Nam). Hệ thống  thành lũy phòng thủ nội            Thái Bằng ở phái đông bắc Phú Nhai ngăn chặt các mũi tiến công từ phía của Phong Miêu (tức ngã ba sông Cát đổ ra sông Hồng). Ở Nội Thái Bằng nghĩa quân lợi dụng các gò đất nối tiếp nhau đặt các ụ súng lớn  của quân triều đình đặt ở cánh đồng Khê Thủy bên kia sông Cát (xã Thụ Nghiệp). Bãi đất phẳng ở khu vực Nội Thái Bằng lũy đất dài hình vòng cung đối diện với đoạn sông Cát chảy về phái đông, phía bắc căn cứ Trà Lũ là hệ thống phòng thủ Đường Nhất Ngoại (thuộc xã Xuân Bắc) do tướng Hai chỉ huy. Từ đây có thể tiến ra sông Ninh Cơ phía tây nam khống chế con đường thủy duy nhất từi Vị Hoàng đến căn cứ Trà Lũ (Nguyễn Phan Quang: Theo dòng lịch sử dân tộc – Nxb.Tổng hợp tp Hồ Chí Minh, năm 2004, tr, 227)

            Lực lượng nghĩa quân khi rút về Trà Lũ còn khoảng 2.000 người. Lực lượng tiếp tế khó khăn. Trong lúc đó triều đình Minh mạng tập trung lực lượng áp đảo cả thủy binh, bộ binh, tượng binh, pháo binh để bao vây tứ phía và ngày càng thắt chặt vòng vây. Triều đình lại cử các tướng lão luyện đi đánh dọn cuộc khởi nghĩa như Trương Văn Minh, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đức Nhuận, Nguyễn Thuận, Phạm Văn ….Triều đình huy động những cơ đội binh lính tinh nhuệ nhất từ Kinh thành Huế và các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa ra bắc phối hợp với quan quân ở các tỉnh thành phía bắc, tạo nên một tư thế áp đảo hòng bao vây kéo dài khiến nghĩa quân bị kiệt quệ và quân lương và phải đầu hàng. Khâm sai Triều đình lại dùng kế mỹ nhân kế xảo quyệt. Bản triều bạn nghịch liệt chuyện chép: “Khâm sai triều đình lại sai viên cai tổng gả con gái đẹp cho Phan Bá Vành. Nhân ngày dỗ Phan Bá Vành cùng vợ con đêm lẻn về vị viên cai tổng dùng phục binh bắt được”. Truyện Bá Vành kể rằng: “phủ Trúc lừa ngả con gái cho Bá Vành, rồi nhân lễ nghinh hôn mà cùng Nguyễn Công Trứ đắt phục binh giết”. Theo tư liệu sưu tầm của Nguyễn Đức Chính thì Nguyễn Công Trứ ra lệnh cho chi phủ Ứng Hòa gả con gái cho Phan Bá Vành làm nội ứng và tiến đánh bất ngờ. Thái Bình tỉnh thông chí Phạm Văn Thụ viết: “Phủ Trúc là thổ hào Giao Thủy, dùng con gái để làm mê hoặc Phan Bá Vành”.

            Trần chi tộc phả chép. “Bị tấn công bất ngờ Vành không kịp điều binh, bèn cùng tướng sỹ và các quân ô hợp khác giao chiến với quan quân ở Nội Thái Bằng từ giờ Ngọ đến giờ Thân không lúc nào ngớt. Quân Vành thua chết quá nửa; số còn lại chạy về trại biết khó đứng vững, muốn tìm đường ra biển tính việc chống trả. Nhưng các của ở sông Hà Lạn, sông Lộc Giang, sông Cát Giang, sông Ngô Đồng, đều bị quan quân phòng triệt hết, không còn cách nào chạy thoát”. Cũng theo Trần Chi tộc phả: “Vành thu tàn quân đào sông dài ước 2.000 thước (800m) gọi là sông Xẻ, cống là cống Vành, một đêm đào xong. Đem thuyền ra biển, rạng đông quan quân đuổi theo, hai bờ súng bắn quân Vành bị chết gần hết. Vành một mình chốn thoát vào bãi lau sậy, hai ngày sau bị khát nước quá, đi tìm nước uống bị Tống trưởng Hoàng Nha là Lê Điển truy soát bắt về”.

Tác giả Lê Trọng Hàm còn cho biết. “Nước cạn, thuyền mắc, đại bác bắn như mưa dồn dập. Vành bị thương ẩn nấp ở đám lau sậy trên bờ sông Hồng chỉ có vài tên cầm một ống tre đi theo. Vành nấp đã sáu ngày, sai Vò đi múc nước rửa chân. Một người đi bắt cua trông thấy kinh sợ, hỏi ra biết người đàn bà đó ở xã Hoành Nha. Vành hỏi có biết cái tên cai tổng Lê Tuấn không? Nó là lớp con em của ta, về nhắn nó tới đây. Ta sẽ giao cả thân ta cho nó. Lê Tuấn bèn đóng một mũi tên gỗ lớn. Ba Vành mặc áo xanh, chít khăn đỏ cúi đầu ngồi yên… Khi giải tới xã Đông Phù huyện Thượng Nguyên thì Bá Vành tự tử, thi thể bị chặt làm 4 đoạn, cắt đầu đem bêu khắp bốn trấn”.

            Nguyên nhân thất bại

            Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “Mỹ nhân kế” chỉ một tác động cho một trừng mực nào đó đối với kết cục khởi nghĩa, không thể coi đó là nguyên nhân chính thất bại của cuộc khởi nghĩa.

            - Nguyên nhân chính là tư tưởng rút về phòng thủ bị động trong một căn cứ chặt hẹp, hãm mình vào thế bị cô lập. Đã thế nghĩa quân bị địch bao vây tứ phía, mất liên lạc với vùng nông thôn lân cận rộng lớn để bổ xung lượng quân số, lương thực và phối hợp chiến đấu, rất khó có thể cầm cự lâu dài, càng khó có thể mở rộng phong trào rộng lớn toàn khu vực châu thổ sông Hồng.

            - Nguyên nhân cơ bản dẫn đến thất bại thực sự của nghĩa quân là tương quan lực lượng chênh lệch giữa hai bên. Trong đó điều kiện lịch sử đầu thế kỷ XIX, triều đình Nguyễn tuy có khủng khoảng về kinh tế, chính trị và mâu thuẫn giai cấp sâu xắc, nhưng vẫn còn khả năng tập trung những đạo quân chủ lực mạnh của triều đình phối hợp với các đạo quân khắp các trấn từ  Trung ra Bắc do các tướng quân lão luyện chỉ huy; cũng như huy động được khối lượng lương thực, quân nhu lơn cung cấp, để có thể bao vây, tấn công nghĩa quân trong thời gian dài. Mặt khác, tuy là một cuộc khởi nghĩa lớn, quân đông và từng trải qua chiến đấu, nhưng khởi nghĩa Phan bá Vành vẫn là cuộc khởi nghĩa của một vùng, không có những lực lượng nổi dậy đồng loạt ở nhiều  vùng hỗ trợ, nên sớm bị hất bại.

            Cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành  thất bại và chìm trong bể máu, nhưng tinh thần chiến đấu cảu nghĩa quân còn vang mãi truyền thống đấu tranh xã hội bất khuất của nông dân Thái Bình vì rộng đất, cơm áo và công bằng dân chủ chống chế độ phong kiến áp bức và bóc lột.

            Cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành cảnh tỉnh chế độ phong kiến triều Nguyễn. Sau cuộc khởi nghĩa này, Nguyễn Công Trứ dâng sớ lên triều đình. “Xin khai khẩn ruộng hoang để yên nghiệp dân nghèo”. Minh Mạng phê chuẩn ngay, mở kho nhà nước phát cho dân nghèo 6 tháng lương thực và tiền bạc để mua sắm trâu bò, cày quốc, làm nhà ở để nông dân nhanh chóng khai khẩn ruộng khoang, đào sông đắp đê, lập ra các làng ấp mới, lập ra huyện Tiền Hải, huyện Kim Sơn và các tổng Hoành Thu, Ninh Nhất (huyện Hải Hậu). Những chính sách nhân nhượng này góp phần ổn định đời sống của nông dân và phát triển phục hầu kinh tế nông nghiệp đầu thế kỷ XIX.

Bùi Minh (Theo Địa chí Thái Bình)