Thái Bình kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 -1975)

18/07/2013


Sau 10 năm (1954-1964), xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đầu năm 1965, Thái Bình thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Chỉ thị của cấp trên. Thái Bình đã chuyển từ thời bình sang thời chiến khẩn chương triển khai thế trận phòng không nhân dân. Trong tháng 2 và tháng 3-1965, toàn tỉnh đã có thêm 5.273 thanh niên gia nhập dân quân tự vệ, các huyện cấp tốc 200 tổ bắn máy bay, trang bị mỗi tổ từ 10 -15 súng trường, các trọng điểm có thêm trung liên, đại liên.

Cập nhật, 18/07/2013

            Đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968)

            Sau 10 năm (1954-1964), xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đầu năm 1965, Thái Bình thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Chỉ thị của cấp trên. Thái Bình đã chuyển từ thời bình sang thời chiến khẩn chương triển khai thế trận phòng không nhân dân. Trong tháng 2 và tháng 3-1965, toàn tỉnh đã có thêm 5.273 thanh niên gia nhập dân quân tự vệ, các huyện cấp tốc 200 tổ bắn máy bay, trang bị mỗi tổ từ 10 -15 súng trường, các trọng điểm có thêm trung liên, đại liên.         Đến tháng 6-1965, các địa phương phát triển được 1035 tổ bắn máy bay, tỉnh phải trang bị tới 4551 khẩu súng, 84 trung liên, 2 pháo cao xạ 20 li; quân số trực chiến lên tới 15.625 người, nhân dân và các HTX tự nguyện góp tiền, thóc nuôi quân trực chiến.

            Theo quyết định của Quân khu Ba, ngày 17-4-1965, Tiểu đoàn 53 bộ binh của tỉnh được tái lập, biên chế 510 người. Cùng với tiểu đoàn 53, tỉnh còn thành lập thêm đại đội 88, trang bị súng máy phòng không và thành lập Đại đội 91, bộ đội huyện Thụy Anh, sau khi thành lập, các đơn vị được giao nhiệm vụ; Tiểu đoàn 53 với 3 đại đội bộ binh, sẵn sàng chiến đấu đánh địch đổ bộ đường không 12,7 ly, bảo vệ khu vực thị xã Thái Bình. Đại đội 91, bộ đội huyện Thụy Anh, được trang bị súng trung liên, Đại liên bảo vệ Diên Điền, cống Trà Linh, cửa Trà Lí. Đến tháng 8-1965, Thái Bình thành lập thêm 3 đại đội dự trữ bổ xung cho chiến trường B, trang bị súng máy phòng không 12,7 li, sau 3 tháng huấn luyện có thể đi chiến đấu được.

            Cùng với các lực lượng tại chỗ, tháng 4-1965, lực lượng phòng không của Quân khu Ba cùng điều động về Thái Bình một đại đội cao xạ  37 li, với nhiệm  vụ bảo vệ cơ động các mục tiêu trọng yếu trên đoạn đường 10, từ cầu Nghìn đến phà Tân Đệ; Hai trung đội súng máy phòn không 14,5 li cơ động bảo vệ mục tiêu ven biên, cùng hai đại đội súng máy phòng không 12,7 li thuộc trung đoàn 556 đóng  trên địa bàn từ trước, có nhiệm vụ bảo vệ Diêm Điền, cống Trà Linh, cống Lân. Tháng 10-1965, Quân chủng Phòng không không quân của ta cũng hoạt động ở vùng trời Thái Bình.

            Ngày 13-8-1965, không quân Mỹ bắt đầu đánh phá Thái Bình. Mục tiêu của chúng là đánh phá trường cấp II xã Bình Nguyên, bến đò và đê xã Hồng Tiến (Kiến Xương), những ngày tiếp theo chúng đánh xã Tán Thuật (Kiến Xương), xã Nam Hưng (Tiền Hải). Ngày 03-11-1968, hai tốp máy bay Mỹ ném bom phá sập cầu Bo, sau đó dánh phá nhà máy đường dốc Văn (Hưng Nhân). Ngày 12-12-1965, vào hồi 5 giờ 5 phút sáng, nhiều tốp máy bay Mỹ ném bom thôn Phương Man (Thụy Anh) làm 69 người thương vong và (31 người bị chết), phá hủy nhiều nhà của, cửa cải, thóc lúa nhân dân. Đến hết tháng 12-1965, không quân Mỹ đã đánh váo Thái Bình 20 trận và 18 mục tiêu; gây thương vong 78, (làm chết 35 người).

Những ngày đấu đánh trả địch, quân dân Thái Bình nổ súng quyết lịệt, nhưng không hạ được máy bay của chúng. Tháng 9-1965, Quân khu Ba tập cán chỉ huy, tham mưu tác chiến tỉnh đội, đại biểu các đơn vị dân quân đã tham gia bắn máy bay địch và chỉ huy các đơn vị phòng không cùng rút kinh nghiệm, bàn phương án tác chiến với quyết tâm “Tạo thành lưới lửa giấy đặc, rộng khắp có hiệu quả. Máy bay địch đến đâu cũng bị bắn rơi, bắn trả quyết liệt”; bằng biện  pháp;”…binh khí phân táng, hỏa lực tập trung”. Tháng 10-1965, tỉnh củng cố lực lượng dân quân tự vệ; chỉ giữ lại 1966 tổ trực chiến với 2.235 người, còng lại đưa hết vào đội ngũ “tay cày tay súng, tay lưới tay súng, tay búa tay súng…”, với phương châm sản xuất nhưng súng bên mình, khi địch đến thì chủ động đánh.

            Ngày 05-11-1965, quân dân Diêm Điền và các xã quanh  vùng thuộc Thụy Anh, Thái Ninh phối hợp với Trung đội 50 súng máy phòng không 14,5ly của Quân Khu Ba, đã bắn rơi một máy bay FH4 của hải quân Mỹ. Đây là chiến công đầu và cũng là chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi ở Thái Bình. Từ đây, quân dân Thái Bình liên tiếp bắn rơi máy bay Mỹ. Ngày 17-11-1965, quân dân Thụy Anh cùng đại đội 13 súng máy phòng  không 12,7 thuộc Trung đoàn 556 Quân Khu Ba bắn rơi một máy bay A3J tại cửa sông Diêm Điền . Ngày 01-12-1965, Đại đội phòng không súng máy  12,7 ly Trung đoàn 556, Đại đội 1 Tiểu đoàn 53 bộ đội tỉnh và Đồn công an Trà Lý bắn rơi một máy bay F4H ở cửa Trà Lý. Trong các trận đánh trả địch cuối năm 1965, Thái Bình đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ.

            Năm 1966, Thái Bình thành lập hai Đại đội (4 và 5), trang bị pháo cao xạ 40 ly. Đại đội 4 thành lập (1-6-1966), sau 25 ngày huấn luyện và kéo pháo về bảo vệ cống Lân, Đại đội 5 thành lập (1-6-1966), được giao nhiệm vụ xây dựng trận địa, nhận pháo huấn luyện và bảo vệ cống Trà  Linh. Hai đại đội từ đây thay thế các đơn vị phòng không của  Quân Khu Ba được rút ra tăng cường nơi khác. Từ tháng 6-1966, địch tập trung đánh phá Thái Bình ác liệt hơn. Chiều 29-6-1966, tại ngã ba Lạc Đạo (Vũ Tiên), nhân dân dâng tập trung mua bán thì địch đánh bom bi làm thương vong 30 người. Đêm 10-7-1966 bến xe thị xã sơ tán ở Hoàng Diệu, cạnh đường 10 thì bị địch đánh phá bị thương vong 22 người. Sáng 21-10-1966, máy bay Mỹ ném bom xuống trường cáp II Thụy Dân (Thụy Anh), gay thương vong 36 người…     Năm 1966, máy bay địch đánh phá Thái Bình 114 ngày đêm với 704 lượt chiếc. Trong các trận đánh trả địch năm 1966, Thái Bình bắn rơi 11 máy bay Mỹ; trong đó tự vệ bắn rơi 1 chiếc, bộ đội tỉnh bắn rơi 6 chiếc, Quân Khu Ba bắn rơi 4 chiếc. Kết quả trên cho thấy. lực lượng vũ trang địa phương đã trưởng thành, có thể tự bảo vệ quê hương, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ.

            Bước vào năm 1967, địch đánh phá quyết liệt vào các điểm trọng yếu ở Thái Bình; ngày 04-1-1967, chúng ném bom cống Lân (Tiền Hải), ngày 5-01-1967, địch ném bom xã Lê Lợi (Kiến Xương). Chiều 16-1-1967, địch ném 8 quả bom xuống cống Trà Linh (Thái Ninh). Đêm ngày 22-1-1967, chúng ném 40 quả bom 500 bảng, phóng nhiều rốc két xuống thị xã Thái Bình và xã Hoàng Diệu (Đông Quan).             Cùng ngày chúng còn đánh 4 nơi khác nhau thuộc các huyện Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải. Ngày 21-2-1967, địch ném hàng loại tấn bom xuống phố Phan Châu Trinh (thị xã Thái Bình). Từ ngày 3 đến ngày 5-5-1967,  chúng ném bom liên tiếp xuống 9 trận bom xuống thị xã. Chiều 18-5-1967, địch ném bom thôn 8, thôn 10 xã Vũ Trung (Vũ Tiên) làm chết 32 người và bị thương, phá hủy 105 gian nhà của 44 gia đình…Năm 1967 địch đánh phá Thái Bình 653 trận, chiếm tới 61% số trận đánh của chúng trong 4 năm (19965- 1968). Cuối năm 1967, địch còn sử dụng bom từ trường (TN) để khống chế đường sông, đường biển tại cửa sông Hồng, đoạn từu Thái Học đến Hồng Thanh, Hồng Tiến; sông Trà Lý đoạn từ Phú Lương đến đò Phú Dâu; sông Luộc đoạn Lộn Khê đến Ninh Giang… Sang năm 1968, tới khi Giôn Sơn tuyên bố ngừng ném bom miến Bắc Việt Nam (từ 1-1 đến 31-3), máy bay Mỹ đánh phá Thái Bình 96 trận, mục tiêu của chúng là vẫn đánh lại các trọng điểm quan trọng, nhưng số trận đánh bom bi váo các khu dân cư, bom TN xuống các cửa sông, đoạn sông trọng yếu tăng lên nhiều lần.

            Trước tình hình đánh phá ngày càng ác liệt cảu địch, từ ngày 4-1 đến ngày 7-1-1967 quân dân bảo vệ cống Lân đã bắn rơi 3 máy bay của địch. Bị bắn rơi nhiều, địch tháy đổi chiến thuật khi bay vào đánh phá, chúng thường bay cao hơn, vì vậy từ tháng 2 đến tháng 10-1967, Thái Bình chỉ bắn rơi được 1 chiếc vào đêm ngày 3-6-1967. Đầu tháng 10-1967, Thái Bình bố trí lại lực lượng phòng không của tỉnh và tăng hỏa lực phòng không lên tương đương với hai sư đoàn bộ binh chủ lực. Do đó, qua 4 tháng (từ 17-11-1967 đến 31-3-1968), Thái Bình đã bắn rơi 11 máy bay của Mỹ, chiến công mở đầu đợi này là công của khẩu đội pháo cao xạ 37 ly, dân quân tập trung huyện Vũ Tiên do khẩu đội trưởng Phạm Thị Hoàng chỉ huy và các pháo thủ đều là phụ nữ, bắn rơi 1 máy bay F8U tại khu vực thị xã Thái Bình.

            Ngày 7-3-1968, hồi 0 giờ 30 phút, dân quân tập trung huyện Phụ Dực được trang bị Đại liên cơ động phụ kích tại các khu cầu Nghìn, bắn rơi một máy bay A6A, đêm ngày 22-3-1968,  và đêm 31-3-1968, dân quân huyện Thụy Anh và huyện Tiền Hải lại bắn rơi 2 máy bay A6A nữa (Trong 25 ngày, từ ngày 7 đến ngày 31-3-1968, Thái Bình bắn rơi 5 máy báy địch đánh đêm)

Chiến công bắn rơi 15 máy bay của Mỹ trong năm 1967,  và 3 tháng đầu năm 1968, ở Thái Bình, 11 chiếc do dân quân tập trung huyện và dân quân trực chiến các xã bắn trong số 15 máy bay địch bị bắn rơi do lực lượng phòng không cơ động phụ kích của dân quân - đây cũng là lối đánh có hiệu quả nhất, gây cho địch nhiều bất ngờ nhất.

            Cùng với chiến đấu công tác phòng không nhân dân cúng được đẩy mạnh, chỉ trong một thời gian ngắn (từ ngày 5-8-1964 đến tháng 2-1965) toàn tỉnh đã đào đắp hàng triều hầm hố các loại, bình quân 2 cái trên 1 đầu người. Đầu năm 1968, Thái Bình có phong trào làm mũ rơm, áo giáp rơm để cho nhân dân sản xuất, học sinh đi học, dân quân trực chiến bộ đội chiến đấu. Nhân dân ven biển đi đánh cá còn làm công sự bằng rơm, đặt trên thuyền để đánh trả máy bay địch. Hàng chục vạn mũ rơm, áo giáp rơm đã được làm trong 6 tháng đếu năm 1967. Những biện pháp hoạt động tích cực trong công tác phòng không nhân dân của quân dân trong tỉnh đã làm giảm số thương vong trong các trận đánh phá  của địch (từu 2,1 người trong năm 1966 xuống còn 1,3 người trong năm 1967), mặc dù năm 1967, địch đánh phá ác liệt hơn năm 1966.

            Những tháng cuối năm 1967, và 3 tháng đầu năm 1968, địch công phá phong tỏa đường sông, đường biển của tỉnh, đánh 40 lần bom TN xuống 7 khu vực, nhiều nhất là cửa sông Ba Lạt – sông Hồng với 335 quả, Trà Lý 256 quả. Diêm Hộ 163 quả, đoạn sống Hồng thuộc xã Bình Thanh (Kiến Xương) 160 quả các nơi khác ít hơn 4 quả (cầu Long Hầu, huyện Tiến Hải), nhiều  nhất 118 quả (bến đò Sa Cao huyện Vũ Tiên), tổng số bom TN đã đánh 1.359 quả. Quả bom đầu tiên phá ở Thái Bình do phân đội công binh Trung đoàn 556 phá tại cửa Ba Lạt; hút bom trên cạn, đơn vị dùng bàn trang X67 và tôn sắc kéo hút bom làm bơm nổ. Kết quả phá bom trên được rút kinh nghiệm và phổ biến ngay trong tỉnh. Sau kết quả phá bom trên cạn, đơn vị phá bom trên sông, dùng mảng ghép bằng cây chuối trên mảnh xếp tôn, sắt vụn và các thanh nam châm; dùng giây dài buộc mảnh và đứng từ xa kéo làm bom nổ hàng loạt. Trong thời gian ngắn đơn  vị đã giải tỏa khu vực được giao. Nhưng địch lại đánh tiếp những đợt khác. Công binh Quân Khu Ba, tỉnh đội Thái Bình và các huyện cùng với công binh dân quân phải tiếp tục bám sát khu vực địch đánh để rà phá. Nhân dân và học  sinh đã thu gom hàng tấn sắt vụn, hàng nghìn cây chuối để đóng bè ủng hộ công binh phá bom. Cuối tháng 3-1968, ba của sông Lân, sông Hồng, sông Trà Lý đã thông luồng, đảm bảo giao thông thủy thong suốt. Ghi nhận thành tích phá bom TN của Thái Bình, Nhà nước tặng Huân chương Chiến  công hạng Ba cho công binh tỉnh Thái Bình.

            Máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá vào Thái Bình từ ngày 13-8-1965 và kết thúc ngày 31-3-1968, ngày kết thúc đánh phá miền Bắc Việt Nam lần thứ nhất của Mỹ. Chúng đã sư dụng 6.706 lượt chiếc máy bay các loại, đánh 622 mục tiêu trong 887 ngày với tổng số 1067 trận (có 169 trận đánh đêm), những loại mục tiêu bị đánh nhiều là hệ thống giao thông (42,87%), dân cư (42,48%) khu vực đánh phá nhiều nhất là thị xã, cống Lân, cống Trà Lý. Bom Mỹ dội xuống Thái Bình hàng nghìn tấn bom, gồm các loại bom,  bom bi, bom TN. Số máy bay trong một trận đánh nhiều từ 2-4  chiếc, những trận từ 10-18 chiếc chiếm khoảng 11% tổng số trận đánh, đột xuất có vài trận từ 28- 30 chiếc. Khi chúng đánh thị xã và cống Lân. Thủ đoạn đánh của địch là lợi dụng đánh mực tiêu quân sự, phương tiện vận tải và các công trỉnh thủy lợi, khu dân cư nhằm tránh bị lên án tội ác. Các trận đánh phá đã làm 2.068 người thương vong ( chết 982 người), trong đó 26% là trẻ em.

            Chống lại chiến tranh phá hoại của không quan Mỹ, quân dân Thái Bình bắn rơi 29 máy bay địch. Dân quân tự vệ bắn rơi 12 chiếc, là lực lượng bắn rơi nhiều nhất;  là súng máy phòng không 12,7 ly; hình thức bắn rơi nhiều là chiến thuật động cơ phục kích; khu vực bắn rơi nhiều nhất là thị xã, cống Lân, Diêm Điền mỗi nơi 6 chiến, các nơi khác từ 1 đến 2 chiếc. Do được tăng cường súng pháo phòng không cho lực lượng vũ trang địa phương nên số lượng đạn tiêu thụ trong chiến đấu có su hướng đạn đại liên giảm dần, đạn 12,7 tăng dần, bình quân 25130 viên đạn các loại bắn rơi 1 máy bay, trong đó có 2.410 viên 12,7 trở lên. Thương vong của lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu chiếm gần 7,5% số thương vong chung. Năm 1966, bị thương vong nhiều nhất khi ta chưa có kinh nghiệm, chủ yếu là số thương vong phục vụ chiến đấu (hơn 90%); năm 1967, lực lượng trực tiếp chiến đấu là việc khắp phục bom đạn địch đánh phá. Nhờ sự trợ giúp của công binh cấp trên, công binh địa phương mà chủ yếu là công binh dan quân tự vệ đã nhanh chóng  làm chủ kỹ thuật, tự lực rà phá bom mìn, giải tỏa diện tích đất sản xuất và thông đường giao thông.

            Đánh địch nhưng phải bảo vệ được mình nên chiến đấu đi đôi  với phòng  tránh tại Thái Bình, ngay sau khi có sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, nhân dân thị xã, thị trấn vùng ven biển đã đào hầm, hỗ trú ẩn. Đầu năm 1965, hố đào giao thông hào đã được đào ở những nơi công cộng; chợ, bến xe, công sở, trường học, đường giao thông có dân cư và cả ngoài đồng ruộng. Tháng 5-1966, dân các, các vùng trọng điểm sơ tán về nông thôn nhưng chưa triệt để. Sau vụ địch đánh ngã ba Lạc Đạo, bến xe sơ tán ở Hoàng Diệu bị thương nhiều thì việc sơ tán mới triệt để, quy định phòng không cảu tỉnh mới được chấp hành tự giác, nghiêm túc. Năm 1967, trong hơn 20 vạn đồng bào trong vùng sơ tán về vùng quê hẻo lánh; cơ quan tỉnh, huyện tản vào 150 xã trong tỉnh; 569 trường học chia nhổ thành 1416 trường, mỗi lớp ở một xóm nhỏ; 336 cửa hàng của tỉnh, huyện chia thành 661 cửa hàng và 96 quầy lưu động; 71 kho hàng chia thành 882 kho. Hệ  thống y tế tỉnh chia thành hệ thống rộng khắp với 4 tuyến cấp cứu. Hơn 3 năm (1965-1968), nhân dân đã bỏ 5.250.000 ngày công, hơn 34 triệu cây tre gỗ, 25.255 nghìn viên gạch và trên 3 triệu đồng để làm 1.266.430 hầm hố các loại trên 1.000 km giao thông thông hào. Từ vụ mùa năm 1966 về sau, nhân dân còn có phong trào làm hàng chục vạn chiếc mũ rơm, áo giáp rơm. Nhờ vậy , giảm được tỷ lệ thương vong trong mỗi trận đánh: năm 1965 từ 3,4 người, năm 1966 chỉ còng 2,1 người, năm 1967, chỉ còn 1,3 người.

            Chống chiến tranh phá hoại của đê quốc Mỹ, quân dân Thái Bình có hai phương án tác chiến: chống địch đánh phá bằng không quân; và chống địch biệt kích, mở rộng chiến tranh cục bộ. Với phương án  chống địch biệt kích và chống chiến tranh cục bộ đã xây dựng thế trận làng xã chiến đấu gắn liền với xây dựng cơ sở về mọi mặt, Kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, lấy việc sóa sổ cơ sở yếu kém làm trọng tâm, lấy vùng xung yếu ven biển, vùng kinh tế vùng đông giáo dân  cư trú làm trọng điểm để bổ xung làm phương án tác  chiến phòng  thủ. Dưới sự chỉ đạo của Quan Khu Ba, hàng năm đều có diễn tập hợp đồng để rút kinh nghiệm. Từ đó, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho Tỉnh ủy ra Quyết định về “Chỉ đạo chiến tranh” và cơ quân quân sự dự thảo “Quyết tâm tác chiến” đó là hai văn bản quan trọng của tỉnh trong việc xây dựng quốc phòng toàn dân, và tiến hành chiến tranh nhân dân trong những năm chiến trang chống Mỹ, cứu nước.

            Vừa đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên quê hương, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường đó là hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng bộ và nhân dân Thái Bình. Chỉ tính riêng con em Thái Bình lên đường vào Nam chiến đấu từ năm 1965-1968, bình quân mỗi năm ngót 20 nghìn . Xây dựng từ đại đội và nhiều  tiểu đoàn, dẫn quân vào thẳng chiến trường….Trong 4 năm (1965-1968) động viên Thái Bình đã tiễn đưa 76.038 con em lên đường nhập ngũ, trong đó có 8.084 đảng viên, 51.750 đoàn viên thanh niên, 855 nữ. 1030 thanh niên Thiên chúa giáo 19.350, 756 công nhân viên nhà nước, 66.291 dân quân tự vệ. So với dân số Thái Bình năm 1968, 1.224.574 người thì đã động viên tới 6,2% và 14, 54% nguồn lực lao động. Những cán bộ, chiến sỹ của Thái Bình đã bổ sung cho chiến trường đã thể hiện phẩm chất tốt trong chiến đấu và công tác. Nhiều người được nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân, nhiều người được tặng Huân chương chiến công các hạng…

            Không chỉ làm tốt việc động viên, đưa tiễn con em lên đường chiến đấu, mà các cấp Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể nhân dân còn làm tốt công tác hậu phương quân đội. Đến tháng 6-1968, tỉnh quản lý tới hơn 33 nghìn gia đình có quân nhân đi chiến đấu ở chiến trường B,C, chăm sóc hơn 73 nghìn người thân của quân nhân. Đồng thời với việc quan tâm đến việc hậu phương quân đội, trong 4 năm (1965-1968), Thái Bình đã xắp xếp lại công việc  có thu nhập ổn định cho 3.856 gia đình, thương binh, liệt sỹ; làm nhà mới và sửa lại hàng trăm gia đình bộ đội; giúp đỡ và hỗ trợ cho 2.131 gia đình quân nhân tái ngũ có hoàn cảnh khó khăn…Chi phí cho việc thực hiện chính sách hậu  phương quân đội, bình quân mỗi năm hơn chục triệu đồng, tương đương với 3 vạn tấn thóc.

Ban biên tập (Theo Địa chí Thái Bình)