Đầu tư cấp nước sạch nông thôn - Cách làm sáng tạo và linh hoạt ở Thái Bình

17/01/2019


Với phương châm: Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hoá trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong các dịch vụ cung cấp nước sạch, bảo đảm phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từng vùng, Thái Bình là một trong những tỉnh trên cả nước thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đến năm 2020. Chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo lãnh đạo, chỉ đạo; linh hoạt, sáng tạo trong thực thi các biện pháp triển khai thực hiện; huy động sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị từ cấp tỉnh, huyện đến cấp xã, chuyển quyết tâm thành hành động, Thái Bình đã hoàn thành thắng lợi mục tiêu cung cấp ổn định, đầy đủ nước sạch đảm bảo chất lượng cho người dân khu vực nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh.

Để thực hiện xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp, vốn huy động của người sử dụng nước đầu tư các công trình cấp nước sạch nông thôn, Thái Bình đã chọn giải pháp tối ưu  “truyền lực” thông qua các cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích. Ngay từ năm 2012, tỉnh đã sớm ban hành một loạt cơ chế, chính sách “rộng cửa” chào đón, thu hút đầu tư. Theo đó, các nhà đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng công suất cấp nước, mở rộng phạm vi cấp nước các công trình cấp nước sạch nông thôn được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; được ngân sách nhà nước đầu tư đảm bảo đủ nguồn nước cho các công trình cấp nước sạch sử dụng nguồn nước mặt; được ngân sách nhà nước hỗ trợ 1,5 – 3 triệu đồng/m3/ngày đêm trên cơ sở công suất thiết kế của công trình và kết quả kiểm tra mức độ hoàn thành của dự án. Riêng nhà đầu tư xây dựng mới các công trình cấp nước sạch nông thôn được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí giải phóng mặt bằng xây dựng công trình đầu mối. Nhà đầu tư có thu nhập từ hoạt động quản lý, khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn theo dự án được UBND tỉnh chấp thuận đầu tư được áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt thời gian hoạt động; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm tiếp theo (Riêng trên địa bàn hai huyện Thái Thụy và Tiền Hải được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo kể từ khi hết hạn miễn thuế thu nhập doanh nghiệp). Đến tháng 9/2014, tỉnh tiếp tục bổ sung thêm chính sách hỗ trợ nhà đầu tư 70% kinh phí đào tạo nghề trong nước, 50% lãi suất tiền vay ngân hàng thương mại để đầu tư tài sản cố định trong 3 năm đầu kể từ ngày vay vốn. Đến hết 31/10/2018 có 24 dự án đầu tư các công trình nước sạch nông thôn được các ngân hàng cho vay vốn với tổng số tiền cam kết cho vay trên 418 tỷ đồng (trung bình 16,7 tỷ đồng/công trình). Tính đến 30/11/2018, tỉnh đã quyết định hỗ trợ cho 51 dự án, công trình với tổng kinh phí 461.469 triệu đồng. Đối với một số dự án đặc biệt thực hiện ở địa bàn khó khăn, có số vốn đầu tư lớn, UBND tỉnhluôn chủ động  xem xét, kịp thời  báo cáo với Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh có cơ chế, chính sách hỗ trợ thêm cho dự án.

Ban hành được các cơ chế, chính sách vừa phù hợp với chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước và sát với thực tế của tỉnh, vừa đủ sức hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư tích cực tham gia đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn đã khó; để những cơ chế, chính sách ấy được thực thi trong cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực càng là thách thức khó hơn. Cách làm của Thái Bình là thành lập Ban Chỉ đạo gánh trên vai nhiệm vụ chỉ đạo giải quyết tháo gỡ những khó khăn, phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện về: thủ tục đất đai, giải phóng mặt bằng, xây dựng công trình và các vấn đề liên quan; chỉ đạo các ngành liên quan, các địa phương tạo điều kiện cho các đơn vị thi công xây dựng công trình và bảo vệ các công trình nước sạch tập trung nông thôn; hỗ trợ nhà đầu tư vay vốn triển khai thực hiện dự án; quản lý chất lượng nước sạch của các nhà máy cấp nước sạch tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh. Các địa phương trực tiếp xây dựng kế hoạch triển khai, giao chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ đấu nối, sử dụng nước sạch đến từng xã, đơn vị làm tiêu chí đánh giá thi đua hàng năm; cùng phối hợp với Ban Chỉ đạo cấp tỉnh triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện các dự án; tuyên truyền, vận động đẩy nhanh tỷ lệ đấu nối sử dụng nước sạch của nhân dân. Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của tỉnh, 6 nội dung: quy trình công nghệ; quy trình quản lý chất lượng; quy định về quản lý, vận hành, bảo dưỡng hệ thống cấp nước; kết quả kiểm tra chất lượng nước của các cơ quan chức năng; giá sử dụng nước (theo quyết định phê duyệt của Ủy ban nhân dân tỉnh đối với từng dự án); mức huy động tiền đóng góp của người sử dụng nước trong việc đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn, luôn được công khai để nhân dân biết, giám sát, tạo sự đồng thuận và ủng hộ cao của người dân.

Với những động thái linh hoạt và sáng tạo, chỉ trong một thời gian ngắn, Thái Bình đã thu hút được các doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký đầu tư trên 2.000 tỷ đồng cho các dự án đầu tư mới và nâng cấp, mở rộng phạm vi cấp nước. Đến nay, có 31 dự án đầu tư mới, đầu tư nâng cấp mở rộng được tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư, Quyết định chủ trương đầu tư (trong đó 24 dự án đầu tư mới, 7 dự án nâng cấp và mở rộng); 26 dự án chuyển giao cho doanh nghiệp quản lý từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn Ngân hàng thế giới; 1 dự án Công trình nhà máy nước Thụy An, huyện Thái Thụy đầu tư từ nguồn vốn Khoa học công nghệ của Trung ương. Các dự án đầu tư xây dựng mới, đầu tư nâng cấp mở rộng đã hoàn thành công trình đầu mối và hệ thống đường ống đã được lắp đặt đến cổng các hộ dân. Các dự án được đầu tư từ nguồn vốn WB và Chương trình mục tiêu quốc gia chuyển giao cho doanh nghiệp đầu tư, quản lý vận hành cơ bản cung cấp nước sạch ổn định cho nhân dân, góp phần thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Tính đến 15/11/2018, tỷ lệ sử dụng nước sạch tại các xã, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh đạt 96,3%, tăng 18,5% so với thời điểm 31/12/2017. Có 261/276 xã, thị trấn (chiếm 94,6%) có tỷ lệ đạt từ 90% trở lên. Các công trình, dự án cấp nước sạch phục vụ nhân dân khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt tỷ lệ sử dụng nước sạch trên 90%. Trong đó, một số dự án có tỷ lệ hộ dân trong phạm vi dự án sử dụng nước sạch cao như: Dự án cấp nước cho nhân dân xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư của Công ty CP đầu tư phát triển doanh nghiệp Thái Bình (98,6%); Dự án cấp nước cho nhân dân 2 xã Quang Trung, Quang Hưng của Doanh nghiệp Thương Trường Thảo (98,7%); Dự án cấp nước cho nhân dân 2 xã Bách Thuận, Dũng Nghĩa của Công ty Bách Hưng Phát (98,7%); Dự án cấp nước cho nhân dân 5 xã thuộc hai huyện Đông Hưng, Thái Thụy của Công ty CP Xây dựng và kinh doanh nước Hoàng Hải (97,6%)…

Tăng cường sức khỏe, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn, giảm sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, với việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu đề ra trong triển khai thực hiện chương trình cấp nước sạch nông thôn, Thái Bình đã góp phần cùng các tỉnh, thành trong cả nước đạt được mục tiêu thiên niên kỷ mà Chính phủ đã cam kết với cộng đồng quốc tế. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ đầu tư các công trình; tiếp tục rà soát, cân đối các nguồn ngân sách, lồng ghép, huy động thêm các nguồn vốn để thực hiện phân bổ vốn hỗ trợ các dự án đầu tư; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc thực hiện khai thác dự án, Thái Bình sẽ còn gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trên lộ trình thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đến năm 2020.

 

Trần Quang